Nhảy đến nội dung
 

Tổ chức chính quyền địa phương trong bối cảnh đặc thù ngày đầu lập nước

(Dân trí) - Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, chính quyền địa phương được thành lập trong tình thế vừa khẩn cấp vừa phức tạp, từng bước đi vào khuôn khổ pháp lý với Sắc lệnh 63 và 64.

Bối cảnh vừa khẩn cấp, vừa phức tạp

Tháng Tám năm 1945, chính quyền thực dân - phong kiến sụp đổ, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Khi ấy, một loạt thử thách khốc liệt đã ập đến. Chính quyền cách mạng non trẻ phải gồng mình đối phó với "giặc đói", "giặc dốt", thù trong và giặc ngoại. Trong hoàn cảnh ấy, một nhiệm vụ sống còn đặt ra: nhanh chóng thành lập bộ máy chính quyền ở khắp các địa phương, để giữ vững thành quả vừa giành được.

Tư liệu từ cuốn "Lịch sử Bộ Nội vụ" đánh giá, cái khó là chính quyền mới gần như bắt đầu từ con số không. Cả nước vừa thoát khỏi ách đô hộ gần một thế kỷ, bộ máy hành chính cũ rệu rã, niềm tin của dân với quan lại cũ cũng đã cạn. Trong khi đó, mô hình chính quyền cách mạng còn rất mới mẻ, chưa có tiền lệ trong lịch sử dân tộc. Mỗi tỉnh, mỗi huyện đều phải vừa tự tìm cách dựng chính quyền, vừa chờ đợi sự thống nhất chỉ đạo từ Trung ương.

Sự phức tạp càng lớn khi nhân sự ở cơ sở hầu hết xuất thân từ phong trào cứu quốc, giàu nhiệt huyết nhưng thiếu kinh nghiệm quản trị. Nhiều nơi, vì thiếu chặt chẽ trong bầu cử, một số kỳ hào, lý dịch, thậm chí cả phần tử phản động, cũng vào Ủy ban nhân dân. Có nơi còn xuất hiện tình trạng "mua quan, bán tước". Bộ máy chính quyền mới vì thế vừa mang trong mình sức sống cách mạng, vừa tiềm ẩn nguy cơ bị suy yếu từ bên trong.

Ngay cả trong đội ngũ cán bộ cách mạng, sự nhiệt huyết chưa đủ để bù đắp cho khoảng trống kinh nghiệm. Nhiều người vừa cầm quyền đã mắc sai phạm. Trong bức thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện, làng ngày 17/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh thẳng thắn chỉ ra sáu "căn bệnh" nguy hiểm: từ lạm quyền, cậy thế, hủ hóa, kéo bè cánh, chia rẽ cho tới kiêu ngạo. Người cảnh báo: "Nếu không sửa chữa, thì chẳng những Chính phủ không thể làm tròn nhiệm vụ, mà còn có thể đến nỗi mất nước, mất dân".

Trong bối cảnh ấy, tổ chức chính quyền địa phương buổi đầu lập nước trở thành một công việc đặc biệt: vừa khẩn cấp, vừa phức tạp, đòi hỏi phải xử lý đồng thời nhiều bài toán - làm sao huy động trí tuệ và sức mạnh của nhân dân, loại bỏ tàn dư cũ, chấn chỉnh sai phạm, và trên hết là tạo dựng niềm tin vững chắc cho dân chúng vào một chính quyền thực sự "của dân, do dân, vì dân".

"Vừa làm vừa học": tinh thần của thời kỳ khởi đầu

Thực tế, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ ngày 3/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng thừa nhận cả lãnh đạo lẫn cán bộ đều chưa quen kỹ thuật hành chính, vì suốt 80 năm bị thực dân kìm hãm trong ngu dân. Nhưng Người khẳng định: "Chúng ta vừa làm vừa học, vừa học vừa làm. Chắc rằng sẽ phạm khuyết điểm, nhưng chúng ta có can đảm sửa chữa". 

Bằng nhiều bài viết ký bút danh "Chiến Thắng" trên báo Cứu Quốc, Hồ Chí Minh thường xuyên nhắc nhở, phê bình thẳng thắn những yếu kém của cán bộ cơ sở, đồng thời chỉ ra hướng khắc phục. 

Nhằm giải quyết tận gốc những bất cập, cuối tháng 10/1945, Bộ Nội vụ đã thành lập Ban nghiên cứu tổ chức chính quyền địa phương, do Bộ trưởng Võ Nguyên Giáp làm Trưởng ban, với sự tham gia của nhiều Bộ trưởng và đại diện Ủy ban nhân dân Bắc Bộ. Đây là một bước đi quan trọng, lần đầu tiên có sự phối hợp bài bản giữa các cơ quan để bàn thảo mô hình tổ chức chính quyền từ cơ sở lên trung gian.

Kết quả làm việc khẩn trương của Ban đã dẫn tới việc ban hành Sắc lệnh số 63 ngày 22/11/1945 - một văn bản pháp lý có tính nền tảng. Sắc lệnh quy định chi tiết về tổ chức, quyền hạn, phương thức làm việc của Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính các cấp từ xã, huyện, tỉnh đến kỳ. Với bốn chương, 115 điều, văn bản này đã đặt cơ sở pháp lý thống nhất, khắc phục tình trạng mỗi nơi làm một kiểu trước đó.

Từ sắc lệnh lịch sử đến chính quyền của dân ở từng làng xã

Ngay sau khi Sắc lệnh 63 được ban hành, các cấp chính quyền địa phương có khuôn khổ pháp lý rõ ràng để tổ chức và điều hành công việc. Hội đồng nhân dân được bầu ra, Ủy ban hành chính giữ vai trò cơ quan chấp hành, gắn trực tiếp với đời sống dân chúng. Trên nền tảng đó, chính quyền xã, huyện, tỉnh nhanh chóng triển khai hàng loạt hoạt động cụ thể nhằm đáp ứng yêu cầu cấp bách của đất nước.

Trước hết là cứu đói. Nạn đói 1945 vừa qua đi để lại hậu quả nặng nề, hàng triệu người thiếu ăn. Các Ủy ban hành chính xã, huyện tổ chức "hũ gạo cứu đói", vận động nhà nhà góp một nắm gạo cứu đồng bào. Có nơi, cán bộ xã đi từng ngõ, gõ từng nhà để thu gom gạo, khoai, sắn, lập kho cứu tế, phân phát cho dân nghèo. Chính quyền địa phương cũng huy động nông dân khai hoang, tăng gia sản xuất, khuyến khích trồng ngô, khoai thay thế lúa, mở các phong trào "diệt giặc đói" theo chỉ đạo của Trung ương.

Thứ hai là đẩy mạnh bình dân học vụ. Từ ngày 8/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh thành lập Nha Bình dân học vụ. Sau đó, các Ủy ban hành chính xã, huyện trở thành lực lượng trực tiếp tổ chức lớp học. Ở nhiều làng quê, đình làng, nhà thờ, thậm chí sân kho thóc đều được tận dụng làm lớp học. Cán bộ xã vận động người biết chữ dạy người mù chữ, ban hành quy định bắt buộc mọi người dân từ 8 đến 50 tuổi đều phải đi học chữ quốc ngữ. Chỉ trong một thời gian ngắn, hàng triệu người thoát nạn mù chữ - thành quả có phần lớn từ vai trò tổ chức của chính quyền địa phương.

Thứ ba là giữ gìn an ninh trật tự, chống phản cách mạng. Đây là nhiệm vụ đặc biệt nặng nề. Ủy ban hành chính xã, huyện tổ chức lực lượng tự vệ, dân quân canh gác, tuần tra, phát hiện gián điệp và nhóm chống phá. Nhiều nơi thành lập các "Ban trị an" để xử lý vụ việc ngay tại cơ sở. Việc truy quét thổ phỉ ở miền núi, trấn áp phản động ở đồng bằng… đều có sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền địa phương và lực lượng vũ trang.

Thứ tư là xây dựng nền nếp hành chính. Đây chính là điểm dễ nảy sinh tùy tiện. Thực tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảnh báo "sáu căn bệnh" của bộ máy. Nhiều cán bộ xã, huyện ban đầu còn lúng túng, có nơi tự ý đặt ra thuế lệ, lạm quyền trong xét xử tranh chấp. Chính vì vậy, Chính phủ đã ban hành Sắc lệnh 64 (ngày 23/11/1945), lập Ban Thanh tra đặc biệt và Tòa án đặc biệt, trực tiếp giám sát và xử lý cán bộ vi phạm. Cơ chế này buộc chính quyền địa phương phải tuân thủ pháp luật, tránh tình trạng biến tướng khi vừa có quyền lực mà chưa có kinh nghiệm quản trị.

Thứ năm là huy động sức dân cho kháng chiến. Khi thực dân Pháp quay trở lại xâm lược, các Ủy ban hành chính địa phương trở thành đầu mối động viên nhân lực, vật lực: tổ chức dân công, nuôi quân, vận chuyển lương thực, xây dựng hầm hào. Phong trào "toàn dân kháng chiến" bắt đầu từ sự chỉ đạo cụ thể của chính quyền cơ sở.

Nhìn lại chặng đường đầu tiên sau Cách mạng Tháng Tám, bộ máy chính quyền địa phương đã nhanh chóng được đặt vào khuôn khổ pháp lý, từng bước vượt qua tình trạng rối ren, phân tán ban đầu. Các Ủy ban hành chính không chỉ là cơ quan hành chính của Nhà nước, mà còn là tổ chức cách mạng của nhân dân, gắn bó mật thiết với đời sống chính trị - xã hội ở cơ sở. 

 
 
 
CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG SẢN XUẤT VÀ THƯƠNG MẠI ĐẠI SÀN
logo

Giấp phép đăng ký kinh doanh số 0103884103 do Sở Kế Hoạch & Đầu Tư Hà Nội cấp lần đầu ngày 29/06/2009.

Trụ sở chính: Gian số L4-07 tầng 4, nơ-2 - Gold Season, 47 Nguyễn Tuân, Thanh Xuân, Hà Nội

Email: daisanjsc@gmail.com

TRỤ SỞ HÀ NỘI

Địa chỉ Gian số L4-07 tầng 4, nơ-2 - Gold Season, 47 Nguyễn Tuân, Thanh Xuân, Hà Nội

Điện thoại  Điện thoại: 1900 98 98 36

Fax  Fax: 045625169

CHI NHÁNH HỒ CHÍ MINH

Địa chỉ 57/1c, Khu phố 1, Phường An Phú Đông, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh

Điện thoại  Email: info@daisan.vn