Có lẽ, xán lạn là một trong những từ bị viết sai chính tả nhiều nhất và nghĩa của nó xem ra còn mơ hồ đối với một số người.
Xán lạn là từ Hán Việt, bao gồm 2 từ:
Xán (灿) thuộc bộ hỏa, cấu tạo hình thanh (Lục Thư), nghĩa gốc là sáng chói, rực rỡ (Thư pháp tự điển quốc học đại sư), thí dụ như câu "xán nhã đồ tú" (rực rỡ như tranh thêu) trong Từ hà khách du kí. Du hoàng sơn kí.
Lạn (烂) thuộc bộ hỏa, cấu tạo hình thanh (Lục Thư), lần đầu được tìm thấy trong Thuyết Văn Giải Tự. Lạn có nghĩa gốc liên quan đến việc nấu ăn, ám chỉ thức ăn bị mềm do nấu quá chín, chẳng hạn như câu "thục nhi bất lạn" (nấu chín nhưng không nát nhừ) trong Lã Thị Xuân Thu. Bản vị.
Để diễn tả sự rực rỡ muôn màu, người ta cũng thường sử dụng thành ngữ Xán lạn đoạt mục, một cụm từ có thể bắt nguồn từ quyển Tỉnh thế hằng ngôn của Phùng Mộng Long thời nhà Minh. Thành ngữ này còn được dùng để mô tả sự lộng lẫy của cảnh quan trong thiên nhiên (thí dụ như pháo hoa hoặc cầu vồng). Xán lạn đoạt mục còn biểu thị sự nổi bật của các khái niệm trừu tượng hoặc mô tả sự lộng lẫy nhiều màu sắc (của pháo hoa, ánh đèn sáng…), tương tự như ý nghĩa của thành ngữ Xán lạn đa thái.
Xán lạn (灿烂) xuất phát từ quyển Văn tuyển của Trương Hành. Từ này có nghĩa gốc là sáng chói và rực rỡ, thường dùng để mô tả màu sắc rực rỡ: "Xán lạn nhất câu tân nguyệt, mộc mạt lai yêu" (Trăng lưỡi liềm rực rỡ, mời gọi cây cối mọc lên), trích từ Nhị khắc phách án kinh kì (quyển 13).
Ngoài ra, xán lạn còn những nghĩa sau:
- Chỉ vẻ ngoài tươi sáng, sống động (Văn tuyển. Trương Hành Đông Kinh phú).
- Lộng lẫy, huy hoàng (Bão Phác Tử. Bác Dụ của Cát Hồng thời nhà Tấn).
- Miêu tả vẻ đẹp của ngôn ngữ văn chương (Nghệ uyển chi ngôn của Vương Thế Trinh thời nhà Minh).
- Miêu tả sự vật hoặc công trình rực rỡ và tươi đẹp (Hậu Hán Thư, Ban Cố truyện, phần hai).
Những từ cận nghĩa với xán lạn là huy hoàng (辉煌: chiếu sáng, tỏa sáng, rực rỡ, xuất sắc, xuất chúng) hoặc huyến lạn (绚烂: huy hoàng, chói lọi, rực rỡ).
Về thành ngữ, xán lạn xuất hiện trong các cụm từ sau:
Quang huy xán lạn có nghĩa là tiền đồ tươi sáng, một thành ngữ lần đầu thấy trong bộ Ngũ đăng hội nguyên (tập 11) của thiền sư Phổ Tế thời Tống.
Kim quang xán lạn là ánh kim rực rỡ, một thành ngữ xuất hiện lần đầu ở dạng câu đối trong Kính hoa duyên (chương 20) của Lý Nhữ Trân thời nhà Thanh. Người ta còn dùng thành ngữ này để mô tả hiệu ứng của lá vàng trên trang trí kiến trúc, chẳng hạn như kỹ thuật dát vàng trên những cung điện xưa. Kim quang xán lạn còn được dùng để miêu tả ánh hoàng hôn.
Ngoài ra còn thành ngữ xán lạn huy hoàng, một cụm từ có nghĩa đen biểu thị cảnh tượng rực rỡ, chói lòa; nghĩa bóng chỉ một thành tựu nổi bật, thu hút sự chú ý. Thành ngữ này lần đầu được tìm thấy ở chương 48 trong tác phẩm Kính hoa duyên của Lý Nhữ Trân thời nhà Thanh.
Về chính tả, Khang Hi tự điển cho biết:
Chữ xán (灿) có phiên thiết là "thương án thiết", đọc là xán (粲)"; còn lạn (烂) phiên thiết là "lang cán thiết", đọc là lạn (lan khứ thanh).
Như vậy, xán lạn là từ Hán Việt chuẩn. Từ thế kỷ 19 đến nay, các từ điển "chính thống" xuất bản tại VN đều ghi nhận từ "xán lạn". Những cách viết khác như sáng lạng, xán lạng hay sán lạn…, đều bị xem là sai chính tả.













