Tổ quốc mạnh từ biển

Phó đô đốc (trung tướng), Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Mai Xuân Vĩnh, nguyên Tư lệnh Quân chủng Hải quân, năm nay 94 tuổi, đang nghỉ hưu tại TP.HCM. Không chỉ đi qua 3 cuộc chiến tranh, chứng kiến sự phát triển của Quân đội mà ông còn có những kiến nghị rất thẳng thắn, góp phần thúc đẩy quá trình hiện đại hóa Hải quân VN.
Đau đáu không quân hải quân
Đầu những năm 1980, Liên Xô giúp đỡ ta một số trực thăng săn ngầm Ka-25 và thủy phi cơ Be-12 tuần tra biển, chống tàu ngầm. Tháng 4.1982, Bộ Quốc phòng chuyển các phi đội Ka-25 và Be-12 từ Trung đoàn Không quân 933, Quân chủng Không quân (nay là Quân chủng Phòng không - Không quân) sang cho Quân chủng Hải quân.
Sau hơn 2 năm ở Quân chủng Hải quân, đến cuối tháng 6.1984, phi đội Ka-25 và Be-12 được điều trở lại Quân chủng Không quân, nằm trong đội hình Trung đoàn Không quân 954 (thành lập giữa tháng 9.1984).
Từ năm 1988, Trung đoàn 954 được tăng cường trang bị thêm trực thăng chống ngầm Ka-28, Ka-27PL, Ka-32T và gần đây là EC-225 (2011), thủy phi cơ DHC-6 (2013), UAV thế hệ mới…
Cuối tháng 5.2013, Trung đoàn 954 được nâng cấp thành lữ đoàn; cuối tháng 6.2013, được điều chuyển từ Quân chủng Phòng không - Không quân trở về Quân chủng Hải quân, và đến nay luôn hoàn thành tốt các nhiệm vụ như: cất hạ cánh trên tàu hộ tống lớp Gepard; bay bắn, ném bom; bay tìm kiếm cứu nạn quốc tế; bay tuần tra, trinh sát, kiểm soát ngư trường và tìm kiếm, cứu nạn, cấp cứu vận chuyển bệnh nhân…
Nhớ lại thời điểm đầu năm 1984, khi Bộ Tổng tham mưu có ý định điều lực lượng không quân hải quân về Quân chủng Không quân, Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh (khi đó là đại tá, Phó tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Hải quân) nhớ lại: "Chúng tôi thiết tha đề nghị giữ lại Không quân Hải quân nhưng không được" và nêu các lý do xin giữ, như: Đây là thành phần chủ yếu của hải quân. Tác chiến trên biển, nếu không có không quân thì hải quân sẽ rất khó khăn, có khi còn bị tổn thất. Nếu để không quân hải quân ở Quân chủng Không quân thì khi tác chiến trên biển, lại phải điều về phối thuộc, sẽ không thuận lợi cho chỉ huy hiệp đồng và hiệu quả tác chiến không cao.
Năm 2000, trước khi nghỉ hưu, Phó đô đốc Vĩnh gặp Đại tướng Phạm Văn Trà (khi ấy là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng) đề nghị: Quân chủng Hải quân cần có đầy đủ các binh chủng để độc lập chiến đấu trên biển. Năm 1981, Hải quân đã được trang bị máy bay, thế nhưng sau đó lại bị chuyển về Không quân với lý do "để có điều kiện, khả năng duy trì hoạt động". Thực tế từ khi chuyển về Không quân, số máy bay này chưa lần nào hoạt động cùng Hải quân nên dần bị hư hỏng và bị loại bỏ…
Trang bị Hải quân, từ nhỏ đến lớn
Trong gần 10 năm giữ trọng trách Tư lệnh Hải quân, tướng Mai Xuân Vĩnh đã nhiều lần báo cáo về những khó khăn, bất cập trong trang bị chiến đấu của Hải quân, với các lãnh đạo chủ chốt trong Bộ Chính trị, Ban chấp hành T.Ư Đảng và Thường vụ Đảng ủy Quân sự T.Ư.
Đầu năm 2000, tướng Vĩnh nghỉ hưu. Trước khi nhận quyết định, ông xin gặp Đại tướng Phạm Văn Trà, kiến nghị thẳng thắn: Hải quân là một trong 3 quân chủng của Quân đội nhân dân VN, nòng cốt bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ trên các vùng biển, đảo. Những năm qua, tình hình tranh chấp chủ quyền ngày càng gay gắt, những vụ vi phạm chủ quyền của nước ngoài liên tục xảy ra... Thế nhưng thực lực trang bị chiến đấu của Hải quân quá thiếu thốn và lạc hậu. Từ 10 năm nay, Hải quân ngày càng xuống cấp, trang bị tàu chiến đấu được bổ sung không đủ bù đắp số hao hụt do sử dụng nhiều năm. Cứ đà này thì lực lượng chiến đấu của Hải quân sẽ ngày càng teo lại.
Tướng Mai Xuân Vĩnh tha thiết: "Đề nghị Đảng ủy Quân sự T.Ư, Bộ Quốc phòng và cá nhân Bộ trưởng báo cáo với Bộ Chính trị và Nhà nước khẩn trương có chiến lược xây dựng Quân chủng Hải quân, dù kinh tế của đất nước còn khó khăn, cũng phải cố gắng giải quyết tăng cường trang bị chiến đấu để vực Hải quân lên. Trước hết là bổ sung tàu chiến đấu bằng cả mua và đóng mới. Xây dựng công nghiệp sản xuất vũ khí của hải quân và đổi mới trang bị, vũ khí của hải quân hiện đại hơn…".
Về tổ chức biên chế, tướng Mai Xuân Vĩnh đề nghị: "Hiện tại, số tàu chiến đấu đang tập trung ở Vùng 3 Hải quân (Đà Nẵng), trong khi chiến trường nóng bỏng hơn lại ở quần đảo Trường Sa và thềm lục địa phía nam. Vì vậy, lực lượng tàu chiến đấu của Vùng 3 luôn phải cơ động vào trực chiến ở phía nam, xa sự quản lý của đơn vị, lại phân tán, rất khó khăn trong chỉ đạo huấn luyện và bảo đảm các mặt của lữ đoàn tàu. Mặt khác, sức cơ động của tàu ta rất hạn chế, bán kính hoạt động không xa, nên cho thành lập đơn vị mới ở phía nam, để giảm bớt việc phải cơ động các tàu từ Đà Nẵng vào trực chiến ở phía nam"…
Thực tế, 2 năm sau khi tướng Vĩnh nghỉ hưu, đầu tháng 1.2002, Bộ Quốc phòng thành lập lữ đoàn tàu chiến đấu mặt nước 162 thuộc Vùng 4 Hải quân, được trang bị các tàu chiến hiện đại nhất, chuyên trách bảo vệ Trường Sa. Tháng 7.2013, lữ đoàn tàu chiến đấu mặt nước 167 (Vùng 2 Hải quân) được thành lập với các tàu tên lửa Molniya 1241.8 hiện đại.
Đặc biệt, sau khi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ quân đội lần thứ IX (nhiệm kỳ 2010 - 2015) xác định Hải quân nhân dân VN là một trong 5 lực lượng được xây dựng theo hướng "tiến thẳng lên hiện đại", Quân chủng Hải quân đã được quan tâm đầu tư, mua sắm trang bị nhiều vũ khí, khí tài mới, hiện đại và hiện có 5 thành phần binh chủng (tàu mặt nước, tàu ngầm; không quân hải quân; pháo binh - tên lửa bờ; hải quân đánh bộ; đặc công hải quân) và các đơn vị bảo đảm, phục vụ… Các lực lượng trên đã được tăng cường, đưa vào biên chế nhiều loại vũ khí, khí tài hiện đại như tàu ngầm Kilo 636, tàu hộ vệ tên lửa Gepard 3.9, tàu tên lửa 1241.8, tàu pháo TT-400TP, tàu tuần tiễu pháo 10412; tên lửa bờ Bastion; máy bay EC-225, DHC-6; ra đa cảnh giới SCORE-3000…
Bây giờ tuổi cao sức yếu, tướng Mai Xuân Vĩnh ít xuống thăm lại các đơn vị Hải quân như mấy năm trước, nhưng ông vẫn phấn chấn: "Quân chủng Hải quân phát triển hiện đại như nay, cứ như trong mơ"…