Nhà văn Chu Lai của Mưa đỏ: 'Tôi làm gần hết những gì cần làm' - Báo VnExpress

- Không khí đón chào ngày lễ lớn của của đất nước khơi dậy ký ức nào của ông về một thời chiến đấu?
- Những ngày qua, máy bay trên bầu trời gợi cho mọi người niềm háo hức. Nhưng ở thời chiến, đó là lúc người lính thấy như đang tiếp xúc với cái chết. Sau chiến tranh, các cựu binh quan niệm sống được ngày nào lãi ngày đó, bởi khi xưa cứ 10 người đi thì chín chiến sĩ không trở về.
Trong tôi có sự xốn xang, một gợi thức, hoài niệm tự nhiên về năm tháng đầu tiên nhập ngũ. Tôi nhớ từng đồng đội, trận đánh, nhớ cả lúc hy vọng và tuyệt vọng trong trận mạc. Tôi nghẹn ngào nghĩ về những thằng bạn, chiến hữu mãi nằm sâu trong rừng, không có dịp trở về, đau xót cho hàng triệu thanh niên ưu tú đã nằm xuống, không được chứng kiến ngày huy hoàng của dân tộc.
81 ngày đêm ở Quảng Trị, có thể nói đây là một trong những trận đánh khốc liệt nhất trong lịch sử chiến tranh loài người. Bảo vệ thành cổ có hai mùa khô và mưa, hình thành hai thế trận sa mạc chiến và thủy chiến. Trên phim, do điều kiện quay chỉ vào mùa mưa nên khán giả sẽ thấy mỗi thủy chiến, người lính phải nằm trong lồng nước để chiến đấu. Nếu họ hy sinh, khi đồng đội đưa lên sẽ thấy phần trên cháy đen vì nắng, phía dưới lại trắng như cá luộc do ngâm trong nước nhiều ngày. Sa mạc chiến cũng có gian khổ khác, quần áo rách bươm, lắc đầu một cái chấy rận rụng lả tả.
Thành Đinh Công Tráng hứng chịu 328.000 tấn bom đạn suốt trận chiến, trung bình mỗi chiến sĩ phải ''gánh'' 10 tấn. Tôi không biết có người lính ở quốc gia nào, chiến dịch nào chịu được lượng bom đạn kinh khủng như thế không. Điều này dẫn tôi đến một suy ngẫm: ''Chiến tranh thành cổ là ngày nào cũng chôn nhau nhưng chưa đến lượt chôn mình''. Để có ngày hôm nay, núi xương sông máu đã đổ xuống như thế nào.
- Nhắc về chiến tranh, người lính là một lần chạm vào ký ức đau thương, lý do nào để ông theo đuổi mảng đề tài này suốt cuộc đời cầm bút?
- Người lính chỉ cần trải qua một đêm ngủ trong rừng, một ngày hành quân Trường Sơn, cả đời anh ta không quên được. Và chiến tranh kéo dài, khốc liệt quá thì bỗng nhiên trong văn học nghệ thuật nó trở thành siêu đề tài, người lính là siêu nhân vật, càng khai thác càng ''phì nhiêu''.
Sau trận chiến Borodino năm 1812 của quân đội Pháp và Nga, năm 1867, Lev Nikolayevich Tolstoy ra mắt tiểu thuyết Chiến tranh và hòa bình. Việt Nam đã thống nhất 50 năm nhưng bao giờ mới có tác phẩm tầm vóc, vĩ đại như sáng tác của Lev Tolstoy? Đây là câu hỏi muôn thuở mà các thế hệ phải trả lời. Tuy nhiên tuổi trẻ hôm nay dường như cũng ngại ngùng, thích viết về những gì gần gũi, bình dị hơn. Rất nhiều người nói rằng bây giờ về người lính hôm nay chẳng có gì để viết, nhưng hãy thử đi sâu để phát hiện cũng có nhiều vấn đề ngổn ngang.
Cách đây khoảng 20 năm, tôi sáng tác truyện ngắn Con tôi đi lính, dựa trên việc con tôi nhập ngũ thật, đến nay vẫn được nhiều độc giả thích. Chỉ bằng một sự việc, anh thổi được vào đó những nỗi niềm, câu chuyện của quá khứ, tác phẩm vẫn có sức hút nhất định. Đề tài này sẽ không bao giờ chết, chỉ cần triển khai thế nào để ngày càng hấp dẫn. Các tác giả cũng không cần trực tiếp tham chiến như xưa nhưng trong người có ''lửa'', biết hướng về nguồn cội, sẽ viết được.
- Hiện trong ông, những dư chấn chiến tranh tồn tại và biến đổi thế nào?
- Đi qua một ngày, chôn một xác đồng đội thôi cũng ám ảnh, huống hồ chiến đấu 10 năm. Nhưng dư chấn ấy nằm trong dòng mạch của cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, niềm khổ đau cùng lòng kiêu hãnh, hài lòng vì hoàn thành nhiệm vụ, kể cả sự nuối tiếc.
Riêng tôi, dư chấn biểu hiện rõ ở việc về già hay hoài niệm, trăn trở về khuôn mặt của những bạn bè, các cô du kích, những hình ảnh trên chiến trường năm xưa. Nhiều lần, tôi nghĩ đến việc đi một chuyến cuối cùng trở về chiến địa cũ, tìm ai còn sống thì gặp, nhưng hầu như họ đã mất.
- Nhìn lại một đời cầm súng và cầm bút, ông trăn trở điều gì?
- 10 năm chiến đấu, 50 năm viết lách, tôi cũng hết sức rồi. Sau Bức chân dung người đàn bà lạ (2020), tôi tạm dừng. Bây giờ nếu không đủ tỉnh táo, suy ngẫm, viết lấy được, lấy vui thì tác phẩm sẽ không ra gì. Cảm xúc sẽ có một mức hạn định và câu chữ cũng vậy. Cụ Nguyễn Khải nói rằng nhà văn đến 70 tuổi thì tốt nhất là không nên viết nữa, nhưng tôi 76 tuổi còn sáng tác mà (cười). Do sức khỏe hạn chế, nhiều bệnh nền, tôi không thực hiện được những gì dài hơi, đồ sộ. Tôi thường viết những bài ngắn, tản văn song cũng không duy trì đều đặn.
Cách đây mấy năm, tôi cứ một mình một tay lái đi khắp Việt Nam, cho rằng ''phong lưu là lãng du'' nhưng hiện đã hết tuổi, không dám tự đi đường dài. Bây giờ tôi di dưỡng tinh thần, dành phần lớn thời gian đọc sách, xem phim, đi bơi và đạp xe. Tôi không nhai lại quá khứ hay nhâm nhi dĩ vãng nhưng cũng cảm giác mình đã gần làm hết được những gì cần làm.
Nhà văn Chu Lai còn có bút danh Tám Linh, sinh ở Hưng Yên, là con trai của nhà viết kịch Học Phi. Năm 1963, ông nhập ngũ, sau đó về Đoàn kịch Tổng cục Chính trị. Năm 1967 ông xin đi chiến đấu ở chiến trường miền Đông Nam Bộ, bắt đầu ở bộ binh chủ lực, chiến sĩ rồi Đại đội trưởng đặc công địa phương vùng ven Sài Gòn.
Đất nước thống nhất, nhà văn về Ban Tuyên huấn Quân khu 7, sau đó học tại Trường viết văn Nguyễn Du khóa 1. Năm 1982, ông về công tác tại Tạp chí Văn Nghệ Quân Đội đến khi nghỉ hưu, quân hàm Đại tá. Ông có nhiều tác phẩm về người lính, chiến tranh, được tích lũy từ những trải nghiệm chiến đấu như Nắng đồng bằng (1978), Vòng tròn bội bạc (1987), Ăn mày dĩ vãng (1991), Cuộc đời dài lắm (2001), Khúc bi tráng cuối cùng (2004). Trong đó, tiểu thuyết Mưa đỏ (2016) được Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam cùng năm.
Phương Linh