Nhảy đến nội dung
 

80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9

80 năm đất nước đứng lên
Rũ bùn đứng dậy sáng lòa
Đường chúng ta đi
Dân tộc và Tôn giáo trong bản hòa ca Đất nước
80 năm đất nước đứng lên
Rũ bùn đứng dậy sáng lòa
Đường chúng ta đi
Dân tộc và Tôn giáo
trong bản hòa ca Đất nước

Phần 1: Rũ bùn đứng dậy sáng lòa

Phần 2: đường chúng ta đi

Phần 3: Dân tộc và Tôn giáo trong bản hòa ca Đất nước

tiền khởi nghĩa
1858
Pháp xâm lược Việt Nam
1930
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, lãnh đạo phong trào cách mạng
1930-1931
Phong trào cách mạng 1930-1931, nổi bật là phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh
1936-1939
Phong trào Dân chủ Đông Dương
22/9/1940
Nhật Bản chiếm đóng Việt Nam. Thực dân Pháp đầu hàng Nhật Bản. Xuất hiện mối quan hệ cộng trị - cộng tác Nhật – Pháp, nhân dân Việt Nam chịu cảnh "một cổ hai tròng"
1940-1941
Các cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kỳ, binh biến Đô Lương
19/5/1941
Thành lập Việt Nam Độc lập Đồng minh (gọi tắt là Mặt trận Việt Minh). Phong trào Việt Minh bén rễ và phát triển mạnh nhất các vùng dân tộc Tày, Nùng, Thổ, Kinh, Dao, Mông…
22/12/1944
Thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân. Trong 34 đội viên, có 29 người dân tộc thiểu số. Tháng 5/1945, Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân và Cứu quốc quân được thống nhất thành Việt Nam Giải phóng quân
1944-1945
Nạn đói Ất Dậu xảy ra tại 32 tỉnh, thành cũ từ Quảng Trị trở ra. Số người chết đói khoảng 2 triệu người, tương đương 10% dân số
9/3/1945
Nhật đảo chính Pháp trên toàn Đông Dương
11/3/1945
Triều đình Huế tuyên bố hủy Hòa ước Patenotre ký với Pháp năm 1884
12/3/1945
Đảng Cộng sản Đông Dương ra Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, phát động cao trào kháng Nhật cứu nước
17/4-25/8/1945
Nội các Trần Trọng Kim đặt tại Huế:
Tháng 3-8/1945
Cao trào kháng Nhật cứu nước:
5/1945
Căn cứ địa Tân Trào (Tuyên Quang) được chọn là thủ đô Khu giải phóng
17/7-2/8/1945
Hội nghị Potsdam quyết định giao việc giải giáp vũ khí của quân phiệt Nhật Bản ở Đông Dương cho quân Trung Hoa Dân quốc ở khu vực phía Bắc vĩ tuyến 16, cho quân Anh ở khu vực phía Nam vĩ tuyến 16
Tổng khởi nghĩa
Khởi nghĩa giành chính quyền trên toàn quốc
Nguồn: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia
13/8/1945
Trung ương Đảng và Mặt trận Việt Minh thành lập Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc, ban bố Quân lệnh số 1, hạ lệnh tổng khởi nghĩa
14-15/8/1945
Hội nghị toàn quốc của Đảng bàn kế hoạch phát động và lãnh đạo tổng khởi nghĩa
15/8/1945
Phát xít Nhật đầu hàng quân Đồng minh
16/8/1945
Đại hội Quốc dân họp tại Tân Trào thông qua “10 chính sách lớn của Việt Minh”; thông qua “Lệnh tổng khởi nghĩa”; quy định quốc kỳ, quốc ca; thành lập Ủy ban Dân tộc giải phóng Trung ương (Chính phủ Lâm thời do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch)
Từ ngày 14/8/1945
Tại nhiều nơi, cấp bộ Đảng, Việt Minh căn cứ tình hình cụ thể phát động nhân dân khởi nghĩa
16/8/1945
Đơn vị Giải phóng quân do Võ Nguyên Giáp chỉ huy, từ Tân Trào về thị xã Thái Nguyên, mở đầu cuộc Tổng khởi nghĩa
18/8/1945
Bắc Giang, Hải Dương, Hà Tĩnh, Quảng Nam giành chính quyền sớm nhất
17-19/8/1945
Khởi nghĩa thắng lợi ở Hà Nội
Chiều 17/8/1945
Tại Quảng trường Nhà hát Lớn, Tổng hội Viên chức mít tinh ủng hộ Chính phủ Trần Trọng Kim, song đã bị Ủy ban Quân sự cách mạng chiếm lấy diễn đàn kêu gọi ủng hộ Việt Minh, lật đổ chính phủ thân Nhật để lập chính phủ cách mạng
19/8/1945
Quần chúng nhân dân giương cao cờ đỏ sao vàng, biểu ngữ, mang theo gậy gộc, mã tấu… tiến về trung tâm thành phố. Từ trưa, cuộc mít tinh trọng thể tại Nhà hát Lớn đã nhanh chóng chuyển thành cuộc biểu tình vũ trang, tuần hành thị uy của gần 20 vạn người
19/8/1945
Công an nhân dân Việt Nam ra đời
23/8/1945
Nhân dân Huế giành được chính quyền
25/8/1945
Khởi nghĩa giành thắng lợi tại Sài Gòn
28/8/1945
Đồng Nai Thượng và Hà Tiên là 2 tỉnh cuối cùng giành được chính quyền
30/8/1945
Vua Bảo Đại đọc “Tuyên cáo thoái vị”, chấm dứt chế độ phong kiến Việt Nam
“Từ nay, Trẫm lấy làm vui được làm dân tự do của nước độc lập, chứ Trẫm nhất quyết không để cho ai lợi dụng danh nghĩa của Trẫm hay của Hoàng gia mà lung lạc quốc dân nữa” (Tuyên cáo thoái vị)
2/9/1945
Chính phủ lâm thời ra mắt quốc dân đồng bào
TỔNG KHỞI NGHĨA Ở CÁC ĐỊA PHƯƠNG
Quân đội Nhật ở Đông Dương tháng 8/1945
ĐƠN VỊ SỐ LƯỢNG
Bộ Chỉ huy quân đoàn 38 1.000 người
Khu phòng thủ Bắc Đông Dương
Sư đoàn 21 15.000 người
Trung đoàn bộ binh 84 4.000 người
Đơn vị phục vụ (vận tải, y tế…) 880 người
Khu phòng thủ Trung Đông Dương
Lữ đoàn 34 độc lập 5.000 người
Trung đoàn sơn pháo 52 900 người
Đơn vị phục vụ 200 người
Khu phòng thủ Nam Đông Dương
Sư đoàn 2 11.000 người
Trung đoàn phòng không 101 600 người
Đơn vị phục vụ 500 người
Đơn vị thuộc quyền chỉ huy trực tiếp của Quân đoàn 38
Sư đoàn 55 10.000 người
Đơn vị Hải quân Đông Dương 3.700 người
Đơn vị Không quân 23.000 người
Trung đoàn 5 thông tin liên lạc 500 người
Trung đoàn đường sắt 2.500 người
Đơn vị vận tải 1.080 người
Tổng cộng 82.260 người
(Số liệu của Masaya Shiraishi trong “Leclerc et l'Indochine 1945 – 1947”, Paris 1992).
Nguồn: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia
Nhân dân Hà Nội đánh chiếm Phủ Khâm sai ngày 19/8/1945
Ngày 28/8/1945, Đoàn Giải phóng quân ở Việt Bắc về duyệt binh ở Quảng trường Nhà hát Lớn
LỰC LƯỢNG KHỞI NGHĨA
Đảng Cộng sản Đông Dương đã có quá trình chuẩn bị lực lượng liên tục, chu đáo trong suốt 15 năm: Từng bước xây dựng và củng cố lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang, căn cứ địa cách mạng; tập dượt quần chúng đấu tranh. Trong quá trình khởi nghĩa giành chính quyền, phối hợp sáng tạo giữa các lực lượng và hình thức đấu tranh; lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang; đấu tranh chính trị, đấu tranh vũ trang và đấu tranh ngoại giao.
Lực lượng chính trị:
Lực lượng vũ trang 3 thứ quân:
Ca khúc “Mười chín tháng Tám”
Trong ngày 19/8/1945, hòa vào dòng người biểu tình, nhạc sĩ Xuân Oanh vừa viết lời bài hát ra một mẩu giấy, vừa đi vừa bắt nhịp cho mọi người hát cùng nhau. Dòng người biểu tình đến được Nhà hát Lớn Hà Nội, nhạc sĩ cũng sáng tác xong ca khúc.
00:00
03:11
1.00x
Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, trước hàng chục vạn đồng bào Thủ đô, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ Cách mạng lâm thời trịnh trọng đọc bản “Tuyên ngôn Độc lập” khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - sau này là nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Không lâu sau khi thành lập, Chính phủ Cách mạng lâm thời đã tổ chức cuộc Tổng Tuyển cử bầu Quốc hội (6/1/1946) và Hội đồng Nhân dân các cấp nhằm củng cố chính quyền dân chủ nhân dân, xây dựng nền móng của chế độ mới, tạo cơ sở pháp lí vững chắc cho một Nhà nước của dân, do dân, vì dân.
TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP
Đêm 28/8, Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi thảo bản Tuyên ngôn Độc lập tại số nhà 48 phố Hàng Ngang (Hà Nội). Ngày 2/9/1945, tại cuộc mít tinh ở vườn hoa Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời long trọng đọc bản Tuyên ngôn Độc lập.
Ngày tuyên ngôn Độc lập 2 tháng 9 năm 1945 được chính thức quy định là ngày Quốc khánh tại Điều 145, Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992.
Tuyên ngôn Độc lập là áng văn lập quốc vĩ đại, tuyên ngôn trước toàn thế giới về kỷ nguyên độc lập của dân tộc Việt Nam, đồng thời thể hiện rõ thiện chí hòa bình và quyết tâm sắt đá của nhân dân ta quyết bảo vệ nền độc lập mới giành lại được.
Tuyên ngôn Độc lập
Đang đọc Tuyên ngôn Độc lập, Hồ Chủ tịch dừng lại, hỏi: "Đồng bào nghe rõ tiếng tôi không?". Câu trả lời: "Có..." như tiếng sấm rền vang. (theo hồi ức của ông Vũ Kỳ, thư ký riêng của Hồ Chí Minh).
Xem toàn văn và clip
00:00
01:48
1.00x

Chính phủ lâm thời ra mắt Quốc dân đồng bào ngày 2/9/1945

Chủ tịch Chính phủ lâm thời kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Hồ Chí Minh
Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp
Bộ trưởng Bộ Thông tin, Tuyên truyền Trần Huy Liệu
Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Chu Văn Tấn
Bộ trưởng Bộ Thanh niên Dương Đức Hiền
Bộ trưởng Bộ Kinh tế quốc gia Nguyễn Mạnh Hà
Bộ trưởng Bộ Cứu tế xã hội Nguyễn Văn Tố
Bộ trưởng Bộ Tư pháp Vũ Trọng Khánh
Bộ trưởng Bộ Y tế Phạm Ngọc Thạch
Bộ trưởng Bộ Giao thông Công chính Đào Trọng Kim
Bộ trưởng Bộ Lao động Lê Văn Hiến
Bộ trưởng Bộ Tài chính Phạm Văn Đồng
Bộ trưởng Bộ Quốc gia giáo dục Vũ Đình Hoè
Bộ trưởng không bộ
Cù Huy Cận
Nguyễn Văn Xuân
Phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời ngày 3/9/1945.
Ảnh: Tư liệu
6 vấn đề cấp bách
(lược ý phát biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, ngày 3/9/1945)
Nhân dân đang đói… Tôi đề nghị phát động chiến dịch tăng gia sản xuất, mở một cuộc lạc quyên.
Nạn dốt là một trong những phương pháp độc ác mà bọn thực dân dùng để cai trị chúng ta… Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Tôi đề nghị mở một chiến dịch để chống nạn mù chữ.
Nhân dân không được hưởng quyền tự do dân chủ… Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ. Đề nghị tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu...
Chế độ thực dân đã đầu độc dân ta với rượu và thuốc phiện… Chúng ta phải làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập. Tôi đề nghị mở một chiến dịch giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện: Cần, Kiệm, Liêm, Chính.
Thuế thân, thuế chợ, thuế đò là một lối bóc lột vô nhân đạo. Tôi đề nghị bỏ ngay ba thứ thuế ấy và tuyệt đối cấm hút thuốc phiện.
Thực dân và phong kiến thi hành chính sách chia rẽ đồng bào giáo và đồng bào lương để dễ thống trị. Tôi đề nghị Chính phủ ta tuyên bố Tín ngưỡng tự do và lương - giáo đoàn kết.
ĐỐI MẶT THÙ TRONG, GIẶC NGOÀI
Những lực lượng quân sự nước ngoài vào Việt Nam sau Cách mạng Tháng Tám. Nguồn: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia
Cuối tháng 8/1945:
Gần 20 vạn quân Tưởng Giới Thạch kéo vào miền Bắc thực hiện nhiệm vụ giải giáp quân Nhật; nhưng thực chất là thực hiện âm mưu "diệt Cộng, cầm Hồ".
23/9/1945:
Quân Anh công khai hậu thuẫn cho quân Pháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam lần thứ hai.Các thế lực thù địch, phản động ở trong nước như Việt Nam Quốc dân Đảng (Việt quốc), Việt Nam Cách mệnh Đồng minh hội (Việt cách)… tǎng cường chống phá chính quyền cách mạng và chiếm giữ một số địa phương.
Ứng phó:
DIỆT GIẶC ĐÓI, GIẶC DỐT, CUỘC CHIẾN TIỀN TỆ
01.Kinh tế bị tàn phá, ngân khố rỗng, 90% dân mù chữ
Trận lụt lớn tháng 8/1945 vỡ đê 9 tỉnh Bắc Bộ, thiệt hại ước tính 2.000 triệu đồng, tương đương 3 triệu tạ gạo
50% diện tích ruộng đất Bắc Bộ không thể cày cấy
Trung Hoa Dân quốc trưng thu lương thực, yêu cầu cung cấp mỗi tháng 10.000 tấn gạo
Ngành khai thác than: Giảm từ 39.500 công nhân khai thác được 2.500.000 tấn (1940) xuống còn 4.000 công nhân, khai thác được 231.000 tấn (1945)
8 tháng đầu năm 1945: Ngân sách đất nước thâm hụt 185 triệu đồng Đông Dương. 564 triệu đồng nợ chưa thanh toán
Ngân sách quốc gia: 1,25 triệu đồng, trong đó 580 nghìn đồng rách nát
Ngân hàng Đông Dương không xuất tiền, không trả ngân khố
Quân của Tưởng Giới Thạch tung ra đồng tiền Quan kim và Quốc tệ
90% dân số mù chữ; cả nước có 737 trường tiểu học với khoảng 623.000 học sinh, 65 trường cao đẳng tiểu học với 16.700 học sinh, 3 trường phổ thông trung học với 652 học sinh
02.Giải pháp của Chính phủ lâm thời
Phát động ủng hộ quyên góp qua Tuần lễ vàng và Quỹ độc lập
Vận động phong trào Nhường cơm sẻ áo, xây dựng các Hũ gạo cứu đói, phát động phong trào 10 ngày nhịn 1 bữa ăn, mỗi tháng 3 bữa, mỗi bữa 1 bơ, đem gạo đó để cứu dân nghèo
Bãi bỏ thuế thân, thuế môn bài, thuế xe tay, xe đạp…
Cho lưu hành tiền giấy bạc Đông Dương một thời gian; giảm dần giá trị tiền Quan kim từ ngang bằng 1.5 đồng Đông Dương xuống 0.5 rồi 0.2 đồng
Tổ chức dập tiền kim loại, in giấy bạc
Phát động phong trào Bình dân học vụ
03.Kết quả
Nhân dân cả nước đã quyên góp được 370 kg vàng, 20 triệu đồng cho Quỹ Độc lập, 40 triệu đồng cho Quỹ Đảm phụ quốc phòng
Sau 6 tháng, kể từ tháng 11/1945:
Sau 1 năm, kể từ ngày 8/9/1945:
Xây dựng nền tài chính – tiền tệ tự chủ
Một số thành viên Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tháng 8/1945
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong ngày 2/9/1945. Ảnh: Võ An Ninh
Nhân dân Sài Gòn mít tinh chào mừng Ngày Độc lập tại Quảng trường Nam Bộ phủ ngày 2/9/1945
Phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, ngày 3/9/1945
Quân Anh đến Sài Gòn tháng 9/1945
Quân Pháp đến Sài Gòn tháng 9/1945
Quân đội Trung Hoa Dân quốc đến Hải Phòng năm 1945
Nhân dân Hà Nội biểu tình phản đối phái bộ Anh chiếm đóng Nam Bộ phủ ngày 14/9/1945
Lễ khai mạc Tuần lễ Vàng trước Nhà hát lớn ngày 17/9/1945
Chủ tịch Hồ Chí Minh dự ngày Tiễu trừ nạn đói ngày 11/10/1945; hàng ghế đầu có cố vấn Vĩnh Thụy và tướng Mỹ Gallagher
Chủ tịch Hồ Chí Minh dự lễ cầu hồn trong Nhà thờ Lớn Hà Nội ngày 2/11/1945. Bên cạnh là Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hà, người Công giáo
Chủ tịch Hồ Chí Minh dự lễ khai giảng của Đại học Việt Nam tháng 11/1945
Nhân dân Hà Nội hưởng ứng phong trào sản xuất cứu đói ngày 6/12/1945
Nhân dân khu phố Hà Trung (Hà Nội) hưởng ứng phong trào diệt giặc dốt
Đại diện của Mỹ, Pháp, Tưởng Giới Thạch tại cuộc thương lượng tài chính về thu giấy bạc 500 đồng của Ngân hàng Đông Dương ngày 10/12/1945
Nhân dân Hà Nội bỏ phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội khóa I ngày 6/1/1946
Bữa cơm đoàn kết trong sân Chùa Láng Tết năm 1946
Đại diện các nước tham dự lễ ký kết hiệp định Sơ bộ ngày 6/3/1946
Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được Quốc hội khóa 1, kỳ họp thứ hai (tháng 11/1946) bầu ra
Lớp học bình dân học vụ tại xã Mỹ Hậu, huyện Cái Bè, tỉnh Mỹ Tho trong kháng chiến chống Pháp
Tháng 1/1950, Trung Quốc và Liên Xô là những quốc gia đầu tiên trên thế giới công nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Đoàn ngựa thồ của đồng bào các dân tộc Tây Bắc vận chuyển lương thực lên mặt trận Điện Biên Phủ năm 1954
Đoàn dân quân Phú Thọ trên đường tham gia phục vụ Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954
Đơn vị cuối cùng của quân đội Pháp rút khỏi miền Bắc Việt Nam tại Hải Phòng ngày 15/10/1955
Nguồn ảnh: TTXVN, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, Thể thao - Văn hóa
CUỘC TỔNG TUYỂN CỬ THẦN KỲ 1946
Ngày 6/1/1946: Tổng tuyển cử tại 71/72 tỉnh thành
Tại Hà Nội, 91,95% cử tri đi bỏ phiếu. Chủ tịch Hồ Chí Minh trúng cử với số phiếu cao nhất là 98,40%.
Ở phía Bắc, một vài nơi đã xảy ra đổ máu.
Các tỉnh, thành phía Nam (trừ Tây Ninh, nơi chiến sự rộng khắp và vô cùng ác liệt) đã tiến hành cuộc Tổng tuyển cử.
Cả nước có 89% tổng số cử tri đi bỏ phiếu.
Cả nước đã bầu được 333 đại biểu, trong đó có 57% số đại biểu là công nhân, nông dân, chiến sĩ cách mạng; 10 đại biểu là phụ nữ; 34 đại biểu là người dân tộc thiểu số.
Sau đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị với Quốc hội mở rộng số đại biểu Quốc hội thêm 70 người dành cho các vị ở hải ngoại về là Việt quốc, Việt cách.
HIẾN PHÁP 1946
Ngày 9/11/1946: Quốc hội khóa I thông qua bản Hiến pháp 1946. Dù chưa được công bố nhưng bản Hiến pháp 1946 đã đặt nền tảng chính trị, pháp lý cho tổ chức và hoạt động của Nhà nước Việt Nam mới.
Hiến pháp 1946 (70 điều) là bản hiến pháp dân chủ, tiến bộ, mẫu mực trên nhiều phương diện; thể hiện rõ tư tưởng pháp quyền, mỗi câu chữ đều “vang vọng tiếng dân”.
Tư tưởng của bản Hiến pháp 1946 đã được tiếp thu và kế thừa trong quá trình xây dựng các bản Hiến pháp tiếp theo: Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992, Hiến pháp 2013
Cách mạng Tháng Tám là bước tiến nhảy vọt trong lịch sử dân tộc, mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do và phát triển dưới chế độ dân chủ cộng hòa - GS.TSKH Vũ Minh Giang, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam trao đổi về ý nghĩa và bài học của sự kiện Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2/9. Clip: Đức Yên
Cuối năm 1946, thực dân Pháp công khai mưu đồ xâm lược, thiết lập lại nền cai trị thuộc địa đối với Việt Nam. Đêm 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Cuộc kháng chiến chống Pháp kéo dài 9 năm, bước ngoặt là chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954. Hiệp định Genève kết thúc chiến tranh Đông Dương vào tháng 7/1954.
Kháng chiến ba nghìn ngày
Không đêm nào vui bằng đêm nay
Đêm lịch sử, Điện Biên sáng rực
Trên đất nước, như huân chương trên ngực
Dân tộc ta, dân tộc anh hùng! 
(Hoan hô chiến sĩ Điện Biên, Tố Hữu)
HỘI NGHỊ GENÈVE HỘI NGHỊ PARIS
Thời gian 4 tháng 5 năm
Bắt đầu - kết thúc
26/4/1954: Khai mạc hội nghị
21/7/1954: Ký Hiệp định
13/5/1968: Khai mạc hội nghị
27/1/1973: Ký Hiệp định
Các bên tham gia
Số phiên họp 7 phiên toàn thể, 24 phiên họp cấp trưởng đoàn 201 phiên họp công khai, 45 cuộc họp riêng cấp cao
Kết quả
Quang cảnh buổi lễ ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Ảnh: TTXVN
Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình - Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, trưởng đoàn đàm phán của Chính phủ Cách mạng lâm thời - là một trong những đại diện các bên và là người phụ nữ duy nhất đặt bút ký vào Hiệp định Paris 1973.
Bà nói với VietNamNet: "Chúng ta nhìn lại mốc lịch sử 80 năm để thấy rằng nền hòa bình, độc lập hiện nay phải được trân trọng. Năm chúng tôi 18 tuổi, nói đến hòa bình, độc lập là lớp thanh niên lại sôi sục trong lòng, vì có hòa bình, độc lập là có tất cả. Thế hệ ngày nay có cả hòa bình và độc lập thì trách nhiệm là phải giữ cho được để xây dựng đất nước vững mạnh, thịnh vượng" (theo Hiền Anh - Trần Thường)
Mùa Xuân năm 1975, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, quân dân ta mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy giải phóng hoàn toàn miền Nam. Chiến dịch Hồ Chí Minh là chiến dịch tiến công chiến lược binh chủng hợp thành có quy mô lớn nhất trong lịch sử chiến đấu của quân đội ta; mốc son chói lọi đánh dấu cuộc kháng chiến chống Mỹ kết thúc thắng lợi, non sông thu về một mối. Đất nước thống nhất vào ngày 30/4/1975, mở ra bước ngoặt phát triển mới cho lịch sử dân tộc.
Diễn biến 5 cánh quân tiến vào Sài Gòn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử
Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử là chiến dịch tiến công chiến lược binh chủng hợp thành có quy mô lớn nhất trong lịch sử chiến đấu của quân đội ta.
"Đất nước trọn niềm vui" ra đời vào đêm 26/4/1975 tại nhà riêng của nhạc sĩ Hoàng Hà ở Hà Nội. Bài hát được giao cho Đài Tiếng nói Việt Nam, được phát trên Đài Phát thanh Giải phóng lần đầu vào sáng ngày 1/5/1975.
Ca khúc "Đất nước trọn niềm vui" được biểu diễn trong chương trình hòa nhạc "Điều còn mãi" do Báo VietNamNet tổ chức năm 2016
.

Sau niềm vui thống nhất, khó khăn bắt đầu bủa vây: Thiên tai (2 trận lũ lụt năm 1978-1979), địch họa (chiến tranh biên giới Tây Nam, cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc), cấm vận bao vây, viện trợ nước ngoài giảm sút hoặc chấm dứt; nền kinh tế kiệt quệ và cơ sở hạ tầng gần như bị phá hủy hoàn toàn.

Cả nước sáp nhập lại còn 38 tỉnh, thành; nền kinh tế dựa vào 2 thành phần cơ bản là quốc doanh và tập thể.

Bức tranh ảm đạm những năm sau 1975 hiện rõ dần: Sản lượng công nghiệp tư doanh từ 13,7 tỷ đồng năm 1976 tụt xuống còn 8,07 tỷ đồng năm 1978. Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất chỉ đạt được 50%. Mức tăng trưởng bình quân GDP chỉ đạt 0,4%.

Khủng hoảng nặng nề nhất là hai năm 1979 và 1980, với các số liệu “âm” như GDP giảm 2% và 1,4%, công nghiệp giảm 4,7% và 10,3%. Theo nguyên Bộ trưởng Bộ NN&PTNN Lê Minh Hoan, những năm 1976-1981, Việt Nam phải nhập khẩu trên 1 triệu tấn lương thực mỗi năm, tỷ lệ đói nghèo gần 70%.

Theo "Phá rào" trong kinh tế vào đêm trước Đổi mới, Đặng Phong, Nxb Tri thức

Trong tình thế ngặt nghèo, nhiều xí nghiệp buộc phải “xé rào”, hộ nông dân “khoán chui”… với hàng loạt mũi đột phá can đảm, vượt qua quy chế lỗi thời. Những bước đi trầy trật, mưu trí, sáng tạo này đã được GS kinh tế Đặng Phong viết trong công trình nghiên cứu: “Phá rào” trong kinh tế vào đêm trước Đổi mới.

“Phá rào” trong kinh tế vào đêm trước Đổi Mới

Nguồn: Mục lục sách “Phá rào” trong kinh tế vào đêm trước Đổi mới, Đặng Phong, Nxb Tri thức

Từ năm 1980 đến 1985, Nhà nước vẫn độc quyền kinh tế đối ngoại, kiểm soát giá cả, phân phối qua hệ thống tem phiếu; mô hình bao cấp thiếu linh hoạt, kìm hãm sản xuất, dẫn đến thiếu lương thực, hàng hóa khan hiếm, chợ đen phát triển.

Thời tem phiếu, mua gì cũng phải xếp hàng; gạo, dầu, đường mua theo tiêu chuẩn. Cán bộ công nhân viên, mỗi tháng tiêu chuẩn 2 lạng rưỡi thịt và cá, dân chỉ được 1 lạng; tiêu chuẩn gạo 13,5 kg (có khi độn khoai, ngô, lúa mạch) và thường xuyên bị mốc. Thậm chí, việc lấy nước sinh hoạt cũng phải xếp hàng. Dân gian truyền nhau những câu lột tả tâm lý xã hội lúc bấy giờ: “Buồn như mất sổ gạo”,”Thủ kho to hơn thủ trưởng”, “Ban đêm cả nước lo việc nhà/Ban ngày cả nhà lo việc nước”

Cảnh xếp hàng trước các cửa hàng mậu dịch chờ mua nhu yếu phẩm theo chế độ tem phiếu vào những năm cuối 1970, đầu 1980. (Ảnh tư liệu)

Bí bách, ách tắc trong thực tế thúc đẩy Nhà nước tìm tòi lối ra. Những cải cách ban đầu đã được thực hiện, như “khoán 100”, chính sách “3 kế hoạch”…

Năm 1981, Chỉ thị 100-CT/TW (khoán 100) về cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp ra đời là bước đột phá được nhân dân tiếp nhận mau chóng và phấn khởi. Ở miền Bắc xuất hiện mấy câu thơ theo thể Bút Tre:

Hoan hô anh Võ Chí Công

Anh cho khoán hộ ruộng đồng tốt tươi...

Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Chí Công lúc bấy giờ là người trực tiếp nghiên cứu thực tiễn, tổng kết mô hình “khoán chui” để đề xuất chính sách.

“Nếu khoán mới không đem lại kết quả thì tôi xin chịu trách nhiệm trước Đảng, trước nhân dân”- phát biểu của ông tại hội nghị thảo luận về dự thảo Chỉ thị 100 đã thể hiện bản lĩnh, ý chí của người lãnh đạo hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân.

Từ năm 1981, kinh tế Việt Nam khởi sắc. Nhưng mặt trái của sự "phá rào" là gây ra những lộn xộn, mất trật tự, khiến cho các tư tưởng thủ cựu nổi lên, muốn quay trở lại cơ chế cũ. Nhiều chính sách bị siết lại.

Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng, với tinh thần can đảm, vì nước vì dân, những người gánh vác trọng trách rồi cũng bước ra khỏi sách vở giáo điều để đi đến những quyết định kịp thời, định hình tư duy cải cách, tìm tòi mô hình phát triển, đặt nền móng cho công cuộc Đổi mới.

Năm 1983, tại sự kiện được gọi là “Hội thảo Đà Lạt” tháng 7, có cả Thủ tướng Phạm Văn Ðồng (khi đó gọi là Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng), Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Trường Chinh, Bí thư Thành ủy TPHCM Nguyễn Văn Linh, một số giám đốc xí nghiệp vừa nói vừa khóc và đề nghị Trung ương cho phép được thực hiện cơ chế hai giá: Giá Nhà nước cân đối vật tư và giá do xí nghiệp mua vật tư trôi nổi trên thị trường.

Theo lời kể của ông Nguyễn Tiến Năng, nguyên trợ lý Thủ tướng Phạm Văn Đồng trên Báo Nhân Dân, khi Thủ tướng đề nghị cho phép TPHCM làm thử cơ chế mới, Chủ tịch Trường Chinh đồng tình và nói địa phương cứ làm nhưng lưu ý phải rất tỉnh táo, làm từng bước, từng phần và thường xuyên báo cáo về Trung ương.

Với cơ chế mới, không chỉ TPHCM mà trong cả nước, các cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, lưu thông phân phối được "cởi trói" và "bung ra" mạnh mẽ, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển.

Năm 1985, Nhà nước tiến hành cuộc cải cách lớn về giá – lương – tiền; thực thi chính sách đổi tiền: 10 đồng tiền cũ đổi 1 đồng tiền mới, mỗi gia đình chỉ được phép đổi 2000 đồng tiền mới. Cuộc tổng điều chỉnh này bộc lộ nhiều khuyết điểm khiến nền kinh tế xuống dốc, lạm phát có thời gian lên tới trên 700%, hơn 7 triệu người thiếu đói, nền kinh tế rối loạn.

Nhổ dần biển cấm, đại uốn nắn lộ trình

Đột phá là một quá trình vừa đi vừa tìm đường và mở đường. Đổi mới là một cuộc đại uốn nắn lộ trình, tìm lại được xa lộ của quy luật, từ đó cỗ xe của chúng ta đi thênh thang, nhanh hơn, đỡ vất vả hơn. Còn các cuộc đột phá là việc nhổ dần những biển cấm và biển báo sai quy luật, để đưa chúng ta về lại đường đi đúng quy luật.

Nhà nghiên cứu kinh tế Đặng Phong

Toàn cảnh Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng. Ảnh: Tư liệu TTXVN

Thực tiễn đặt ra câu hỏi sống còn: “Đổi mới hay là chết?”. Với tư duy lý luận mới và quá trình khảo nghiệm thực tiễn, các văn kiện trình Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được chuẩn bị chặt chẽ.

Đại hội đã đưa ra những chủ trương cải cách, đổi mới mang tính lịch sử. Triết lý sâu sắc trong tư duy đổi mới chính là tư tưởng giải phóng: Đổi mới để giải phóng mọi tiềm năng, phát triển lực lượng sản xuất vì mục đích phục vụ con người, phát triển con người.

ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ VI CỦA ĐẢNG

Đổi mới của Tổng Bí thư Trường Chinh

Trường Chinh thường được anh em gọi là anh Mười Nghiêm. Ông quả là con người của những công thức hoàn chỉnh… Cả đời ông có lẽ chỉ có một điều không nghiêm, mà đó là điều rất tốt cho đất nước ta. Vào cuối đời, ông có một sự thay đổi 180 độ về quan điểm kinh tế. Có thể nói đó là một sự lột xác, chuyển từ một người bảo thủ sang một người cấp tiến và là tác giả chính của sự nghiệp Đổi mới.

Trần Việt Phương-Thư ký Thủ tướng Phạm Văn Đồng

Lật để xem

Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh “nói và làm”

Lật để xem

Điểm sáng 1987-1989

Vận nước đang tới

GS Vũ Minh Giang

00:00
10:41
1.00x

Bà Phạm Chi Lan, nguyên Phó Chủ tịch của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam nói với VietNamNet: Từ những năm 1990, Đổi mới được đẩy lên một bước nữa với những công cụ mang lại hiệu quả rất cao. Việc chuyển sang kinh tế thị trường, khuyến khích người dân làm giàu cho mình và cho đất nước đã làm thay đổi toàn diện nền kinh tế.

Năm 1990, Việt Nam đã ban hành một số luật quan trọng thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, trong đó đáng chú ý là Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân; 9 năm sau là Luật Doanh nghiệp. Cùng với đó là những chủ trương cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, chấm dứt chế độ 2 giá, để giá ngoại tệ sát với giá thị trường…

Hội chợ quốc tế hàng công nghiệp 20/10/1992. Nguồn: TTXVN – Sách ảnh 100 năm báo chí cách mạng Việt Nam, NXB Thông tấn

Thủ tướng Võ Văn Kiệt

Con người của ý chí và hành động

Trong các đời Thủ tướng thì Võ Văn Kiệt - Sáu Dân là người làm được nhiều việc lớn nhất cho dân, cho nước.

Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng

Phải là một chính khách dũng cảm, biết đặt lợi ích của dân tộc lên trên hết, ông Võ Văn Kiệt mới có những chỉ đạo táo bạo trong các động thái góp phần làm tan băng quan hệ giữa Việt Nam với Hoa Kỳ và các nước công nghiệp phát triển khác.

Nguyên Phó Thủ tướng Nguyễn Mạnh Cầm

Luật Đầu tư nước ngoài vào năm 1988 mở đường thu hút nguồn vốn “ngoại”. Năm 2019, đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 4.028 dự án với tổng số vốn đăng ký đạt 38.951,7 triệu USD, tương ứng gấp 19,1 lần và 24,3 lần so với giai đoạn 1988 - 1990.

Luật Doanh nghiệp ra đời năm 1999 làm bừng dậy khí thế mới, người dân hăng hái làm giàu. Trong thập kỷ 90, chưa đến 40.000 doanh nghiệp ra đời. Khi có Luật Doanh nghiệp, sau một năm đã có thêm 20.000 và năm sau nữa là 25.000 doanh nghiệp.

“Đường lớn đã mở/Đi tới tương lai…”, câu hát trong một ca khúc sáng tác năm 1975 không ngờ lại có tính dự báo về hệ thống hạ tầng bùng nổ và tăng tốc ở hai, ba thập kỷ sau đó.

Năm 1994, đường dây điện cao thế 500kV Bắc - Nam dài 1487 km đi qua 14 tỉnh thành đưa vào sử dụng, liên kết hệ thống điện cục bộ của 3 miền thành một khối thống nhất. Giao thông phát triển theo cấp số nhân; từ số 0, đến nay cả nước đã có hơn 2.000 km đường cao tốc. Nhiều tuyến vượt sông hồ, xuyên núi, xuyên rừng, đi qua những nơi hoang sơ, tạo trục "xương sống" phát triển, làm thay đổi các vùng đất.

Lạm phát được kiểm soát xuống dưới 2 rồi 1 con số, tăng trưởng trên 9% đạt được vào các năm 1995 (9,54%) và 1996 (9,34%). Kinh tế năm 2007 tăng trưởng 8,5%, cao nhất kể từ năm 1997.

Thị trường chứng khoán Việt Nam thực hiện phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28/7/2000.

Nguồn: TTXVN – Sách ảnh 100 năm báo chí cách mạng Việt Nam, NXB Thông tấn

Một dấu mốc quan trọng là năm 2008, Việt Nam ra khỏi nhóm nước và vùng lãnh thổ thu nhập thấp, để gia nhập nhóm nước và vùng lãnh thổ thu nhập trung bình thấp, đất nước thoát khỏi tình trạng kém phát triển.

Việt Nam đã đạt được nhiều kỳ tích trong công cuộc xóa đói giảm nghèo. Tỷ lệ nghèo chung của Việt Nam tính theo phương pháp của Ngân hàng Thế giới đã giảm từ mức 28,9% của năm 2002 xuống còn 6,7% vào năm 2018.

Năm 2020, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu tại hội nghị Chính phủ với các địa phương ngày 28/12: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế như ngày nay. Đất nước đang có gần 100 triệu dân, làm đủ ăn, thu đủ chi, xuất đủ nhập trong đó xuất khẩu nhiều hơn, có của ăn của để”.

Đường cao tốc Quốc lộ 45 - Nghi Sơn thuộc hệ thống đường cao tốc Bắc - Nam phía Đông qua Thanh Hóa, được khởi công năm 2021, khánh thành năm 2023 cùng với đường cao tốc Nghi Sơn – Diễn Châu
Cầu Thăng Long còn gọi là cầu Hữu Nghị Việt Xô là công trình thế kỷ của quan hệ Liên Xô - Việt Nam. Cầu được khởi công xây dựng năm 1974, khánh thành năm 1985.
Nhà máy Thủy điện Hoà Bình được khởi công năm 1979, khánh thành năm 1994. Đây là nhà máy thủy điện lớn nhất Việt Nam và Đông Nam Á từ năm 1994 đến 2012 (Nhà máy thủy điện Sơn La)
Đường dây 500kV Bắc – Nam mạch 1 là công trình đường dây truyền tải điện năng siêu cao áp 500kV đầu tiên tại Việt Nam có tổng chiều dài 1487 km, khởi công năm 1992 và ra lệnh hòa hệ thống năm 1994.
Cầu Mỹ Thuận là cầu dây văng và cầu bắc qua sông Mê Kông đầu tiên ở Việt Nam, có tổng chiều dài 1.535,2m; khởi công năm 1997 và thông xe năm 2000
Đường Hồ Chí Minh là 1 trong 4 con đường giao thông huyết mạch, chạy từ Bắc vào Nam, tổng chiều dài toàn tuyến 3.167 km; khởi công năm 2000, chia thành nhiều giai đoạn
Hầm đường bộ Hải Vân Hầm được khởi công năm 2000, khánh thành năm 2005. Với chiều dài 6,28 km hầm Hải Vân là hầm đường bộ dài nhất Đông Nam Á.
Nhà máy lọc dầu Dung Quất là nhà máy lọc dầu đầu tiên của Việt Nam, một trong những dự án kinh tế lớn, trọng điểm quốc gia của Việt Nam đầu thế kỷ 21. Được khởi công năm 2005 và vận hành năm 2009
Hầm Thủ Thiêm hay đường hầm sông Sài Gòn được khởi công năm 2005, khánh thành năm 2011
Landmark 81, tòa nhà cao nhất Việt Nam, toà nhà cao thứ hai Đông Nam Á, khởi công năm 2014 và khánh thành năm 2018
Cầu Nhật Tân là cây cầu dây văng lớn nhất Việt Nam, được khởi công năm 2009 và thông xe năm 2015
Đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng, một phần của tuyến đường Xuyên Á, khởi công năm 2009 và thông xe năm 2015.
Cầu vượt biển Tân Vũ - Lạch Huyện tổng chiều dài 5,44km. Đây là cầu vượt biển dài nhất Việt Nam và một trong những cầu vượt biển dài nhất Đông Nam Á; khởi công năm 2014, khánh thành năm 2017.
Cầu Ba Son có tổng chiều dài 1.465 m; khởi công năm 2015, đưa vào sử dụng năm 2022
Cao tốc Vân Đồn Móng Cái có tổng chiều dài 80,23km; kết nối đồng bộ với cao tốc Vân Đồn - Hạ Long - Hải Phòng - Hà Nội - Lào Cai, tạo thành tuyến cao tốc dài nhất Việt Nam với gần 600km
Đường cao tốc Phan Thiết – Dầu Giây khởi công năm 2020, thông xe năm 2023
Đường cao tốc Tuyên Quang – Phú Thọ thuộc hệ thống đường cao tốc Bắc – Nam phía Tây, được khởi công năm 2021, khánh thành năm 2023.
Dự án cao tốc Vạn Ninh - Cam Lộ đang hoàn thành những hạng mục cuối cùng trước khi thông xe toàn tuyến trong tháng 7/2025 và chính thức đón phương tiện lưu thông vào ngày 19/8/2025

Năm 2024, trong bài viết đăng vào dịp lễ Quốc khánh 2/9, Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định: Bước sang thế kỷ 21, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế - xã hội. Ước tính tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2021-2025 đạt 5,7-5,9%/năm, thuộc nhóm dẫn đầu khu vực và thế giới; quy mô nền kinh tế tăng 1,45 lần, ước đạt 500 tỷ USD vào năm 2025. Thu nhập bình quân đầu người tăng mạnh từ 3.400 USD đến khoảng 4.650 USD, đưa Việt Nam vào nhóm nước thu nhập trung bình cao vào năm 2025. Kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát; các chính sách điều hành linh hoạt, hiệu quả; vị thế, uy tín quốc tế ngày càng nâng cao; tốc độ tăng trưởng kinh tế duy trì ở mức cao, đời sống Nhân dân được cải thiện đáng kể.

Kinh tế Việt Nam sau hơn 30 năm: Quy mô GDP tăng 246 lần, thu nhập tăng 17 lần

Từ một nước nghèo, Việt Nam đã vươn lên mạnh mẽ trở thành quốc gia tiệm cận mức thu nhập trung bình cao. Quy mô GDP tăng gấp 246 lần sau 3 thập kỷ, tổng thu nhập quốc gia theo giá thực tế sắp chạm mốc 10 triệu tỷ đồng.

Nguồn: Bộ Tài chính

Xóa đói, giảm nghèo ngoạn mục

Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam năm 2023 đạt 0,766, xếp trong nhóm các quốc gia có mức phát triển con người cao, đứng thứ 93 trên tổng số 193 quốc gia và vùng lãnh thổ. Nguồn: Báo cáo Phát triển con người, UNDP

Thập niên “bùng nổ” doanh nghiệp

Thập niên “bùng nổ” doanh nghiệp

Bà Phạm Chi Lan hồi tưởng lại không khí bừng lên sau những chính sách khuyến khích người dân tham gia sản xuất, kinh doanh, mở doanh nghiệp

00:00
10:40
1.00x
1.00x

Theo lời kể của bà Phạm Chi Lan, năm 2005, tại hội nghị của các nhà tài trợ đã đặt vấn đề nên có tuyên bố về Đổi mới lần thứ hai, đó là hoàn thiện nền kinh tế thị trường. Đến năm 2015, khi thực hiện Báo cáo Việt Nam 2035, vấn đề Đổi mới lần thứ hai lại được đề cập, với bối cảnh mới của thời kỳ cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Đổi mới là một quá trình liên tục, không ngừng, mang tính cách mạng. Thực tiễn đặt ra yêu cầu cần có chủ trương, quyết sách mạnh mẽ, mang tính chiến lược để đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao, nhân dân sống ấm no, hạnh phúc.

Từ giữa năm 2024, những quyết sách nhằm tháo gỡ “điểm nghẽn của điểm nghẽn’’, tạo xung lực, động lực mới đã ra đời, được đón nhận như “nắng hạn gặp mưa rào” (lời Chủ tịch HĐQT một tập đoàn).

Tổng Bí thư Tô Lâm và các đại biểu tham quan triển lãm "Những thành tựu trong xây dựng và thực thi pháp luật", "Những thành tựu trong phát triển kinh tế tư nhân” và các gian hàng trưng bày sản phẩm của các doanh nghiệp tư nhân sáng ngày 20/5/2025

Những đổi mới, cải cách tập trung vào 4 đột phá: Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị về thúc đẩy khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo; Nghị quyết 59 về chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng; Nghị quyết 68 về phát triển mạnh mẽ khu vực kinh tế tư nhân; Nghị quyết 66 về đổi mới toàn diện công tác xây dựng, thi hành pháp luật.

“Bộ tứ trụ cột” thể chế nền tảng này sẽ tạo động lực mạnh mẽ đưa đất nước tiến lên, hiện thực hóa tầm nhìn Việt Nam phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.

Chỉ hơn nửa năm, cuộc cách mạng “tinh gọn bộ máy” diễn ra khẩn trương. Từ ngày 1/7/2025, cả nước triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở 34 tỉnh, thành phố và 3.321 xã, phường, đặc khu với không gian phát triển mới; đưa dân tộc bước vào một chương mới trong lịch sử hình thành và phát triển của đất nước.

Nhà báo Lê Thọ Bình (Phó Chủ tịch Hội Truyền thông số) quan sát: “Năm 1945, gia đình nhà tư sản yêu nước Trịnh Văn Bô hiến hơn 5.000 lượng vàng cho Chính phủ lâm thời mà không đòi hỏi đặc ân, vì tin vào vận mệnh quốc gia. Hôm nay, thế hệ doanh nhân tỷ đô cũng chỉ cần một điều kiện tiên quyết: thể chế minh bạch, đồng bộ và nhất quán để họ yên tâm dốc trí lực, tài lực trong cuộc đua toàn cầu”.

Trong một bài viết năm 2024, Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định “nhất định Việt Nam sẽ tiến vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”, thực hiện đúng ước nguyện trong di chúc của Bác Hồ “đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.

Ôn lại ý nghĩa lịch sử của các sự kiện 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9 với VietNamNet, GS Vũ Minh Giang phân tích:

Là người có tầm nhìn xuyên thế kỷ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận ra: Nền độc lập mà Việt Nam có sau Cách mạng Tháng Tám đã phải đối mặt với các mối quan hệ có tính toàn cầu. Khi ấy chủ nghĩa thực dân đã có mặt ở khắp mọi nơi. Muốn có ánh sáng dưới mặt trời thì phải vươn lên để có vị thế trên bản đồ thế giới, đất nước phải trở nên hùng cường.

Ước nguyện giản dị là được sống yên bình, ai cũng có cơm ăn áo mặc sẽ là chưa đủ để gìn giữ Độc lập, mà cần phải vươn lên thành cường quốc.

Nhưng để thực hiện được khát vọng đó, chúng ta phải mất 80 năm. Chúng ta phải chống Pháp, chống Mỹ; chúng ta phải vượt qua khó khăn, phải đổi mới.

Đến hôm nay chính là thời điểm thực hiện ý nguyện “sánh vai với cường quốc” - bắt đầu kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Khát vọng vươn mình để trở thành cường quốc bắt đầu từ Hồ Chí Minh, sau Cách mạng Tháng Tám

Năm 2011, khi tình hình ở biển Đông căng thẳng, nhạc sĩ Đinh Trung Cẩn lên mạng và bắt gặp bài thơ “Tổ quốc gọi tên” (nhà thơ Nguyễn Phan Quế Mai sáng tác bài thơ này sau cuộc trao đổi với phóng viên VietNamNet rồi gửi đăng trên 2 báo Hà Nội Mới, VietNamNet). Cảm xúc tuôn trào, chỉ khoảng 20 phút, ca khúc “Tổ quốc gọi tên mình” gần như đã hoàn chỉnh. Ca khúc được trình bày trong chương trình hòa nhạc Điều còn mãi do VietNamNet tổ chức tháng 9/2016.

Bảo tàng Tân Trào đang lưu giữ hiện vật đặc biệt: Tráp đựng nhân sâm của gia đình người Tày - ông Ma Đình Tập - ở huyện Định Hóa (cũ), tỉnh Thái Nguyên. Cả nhân sâm nguyên vẹn và đang dùng dở đựng trong chiếc hộp báu vật gia truyền quý giá của dòng họ Ma ở Bản Cái này đã được mang sang lán Nà Lừa (Tuyên Quang) ngay trong đêm để cứu chữa Bác Hồ qua cơn thập tử nhất sinh hồi tháng 7 năm 1945 - theo lời kể trên Sài Gòn Giải Phóng
Gia đình cụ Ma Đình Tập chỉ là một trong số hàng ngàn, hàng vạn đồng bào dân tộc thiểu số đã sớm theo cách mạng. Khắp nơi đều có những người có tấm lòng với đất nước một cách nhiệt thành, son sắt. Sau khởi nghĩa Bắc Sơn (năm 1940), đội du kích Bắc Sơn – lực lượng vũ trang đầu tiên của Đảng - chủ yếu là người dân tộc thiểu số đã ra đời. Căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai, căn cứ địa Cao Bằng được xây dựng, sau đó phát triển thành 2 chiến khu: Cao-Bắc-Lạng và Thái-Tuyên-Hà.
Bác Hồ thăm và chụp ảnh lưu niệm với một gia đình người Dao ở tỉnh Tuyên Quang trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp - Ảnh: Tư liệu TTXVN/Báo ảnh Dân tộc và Miền núi.
Đến cao trào kháng Nhật, cứu nước, có thêm các chiến khu: Trần Hưng Đạo (Đông Triều), Quang Trung (Hòa-Ninh-Thanh), Vĩnh Sơn-Núi Lớn (Quảng Ngãi). Chiến khu Việt Bắc (Khu giải phóng) gồm 6 tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang (cũ) và một phần các tỉnh Bắc Giang, Phú Thọ, Yên Bái, Vĩnh Yên (cũ) được hình thành. Việt Bắc được xây dựng thành một căn cứ địa hoàn chỉnh, làm chỗ dựa vững chắc của cách mạng cả nước. Nhiều đồng bào Tày, Nùng, Dao, Mông... không quản gian nguy, không tiếc của cải, thậm chí vượt qua cả sự ngăn trở của tập tục dân tộc để giúp Việt Minh.
Bài thơ “Việt Bắc”
Nhà thơ Tố Hữu sáng tác bài thơ Việt Bắc vào tháng 10/1954, khi Trung ương Đảng và Chính phủ rời “thủ đô gió ngàn” là chiến khu Việt Bắc về lại Thủ đô Hà Nội. Bài thơ tái hiện những kỉ niệm cách mạng và kháng chiến; đồng thời gợi viễn cảnh tươi sáng của đất nước và ngợi ca công ơn của Đảng, Bác Hồ đối với dân tộc. Nghe bài thơ do nghệ sĩ Trần Thị Tuyết và Châu Loan thể hiện.
00:00
03:11
1.00x
Không chỉ nhường sâm quý hay chia củ sắn lùi, sẻ nửa bát cơm; trong các cuộc kháng chiến, đồng bào dân tộc thiểu số còn có nhiều đóng góp vĩ đại với Tổ quốc, quê hương.
Với địa thế rộng lớn, xung yếu về mặt quân sự, vùng rừng núi Việt Nam trong 30 năm chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ là địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng, là căn cứ địa trong lịch sử chống ngoại xâm và là phên giậu bảo vệ chủ quyền lãnh vực quốc gia.
“Núi giăng thành lũy sắt dày
Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù”
Ở phía Bắc, từ năm 1946 đến năm 1950, có những làng Thổ như khu Chu Lăng huyện Lộc Bình, Lạng Sơn đánh lui tới 29 lần càn quét của địch. Có cả những trung đội, đại đội người thiểu số, có nơi thành tiểu đoàn như Hòa Bình, Tây Nguyên…Thắng lợi của các chiến dịch Việt Bắc Thu Đông năm 1947, chiến dịch Biên giới năm 1950 hay chiến dịch Đông Xuân mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954...có công lao to lớn của đồng bào.
Bác Hồ tới dự và phát biểu tại cuộc mít tinh của nhân dân các dân tộc Tây Bắc tổ chức tại thị xã Sơn La chào mừng Người lên thăm Sơn La và dự Lễ kỷ niệm lần thứ 5 ngày chiến thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954 - 7/5/1959). Ảnh: Tư liệu TTXVN/Báo ảnh Dân tộc và Miền núi
Ở vùng Trường Sơn - Tây Nguyên thuộc miền tây Quảng Trị, Quảng Bình (cũ) và Thừa Thiên Huế, người Vân Kiều (một nhóm của dân tộc Bru-Vân Kiều), Pa Kô (một nhóm của dân tộc Tà Ôi) đã kiên cường, dũng cảm, lập nên nhiều chiến công hiển hách.
Chỉ tính riêng trong năm 1961, A Vai (Hồ Đức Vai) - "linh hồn" của đội du kích A Lưới” (Thừa Thiên Huế) - đã cùng đồng đội đánh 20 trận lớn nhỏ. Ông là người Pa Kô đầu tiên được phong Anh hùng (năm 25 tuổi) và cùng 2 người nữa là Hồ Kan Lịch, Hồ A Nun trở thành “đại gia đình đặc biệt”: 3 Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cũng là 3 chú cháu ruột. Bà Hồ Kan Lịch đã tiêu diệt 150 tên địch, bắn rơi một chiếc máy bay Mỹ và tham gia nhiều trận chiến đấu. Hồ A Nun – em ruột bà - đi vào huyền thoại khi lập kỷ lục gùi 179 tấn vũ khí, lương thực, đạn dược (tương đương một đoàn xe chiến lược) trong những năm từ 1961 đến 1969.
Có những anh hùng người Tày đi vào sử sách với các hành động phi thường như La Văn Cầu trong chiến dịch Đông Khê nhờ đồng đội chặt đứt cánh tay để khỏi vướng, Bế Văn Đàn trong trận chiến Mường Phồn lấy thân mình làm giá súng. Lại có những anh hùng trưởng thành từ kháng chiến chống Pháp, cùng “đất nước đứng lên”, đi qua kháng chiến chống Mỹ và tiếp tục cống hiến trong thời bình, như Sơn Ton - anh hùng đầu tiên của dân tộc Khmer, Đinh Núp (người Ba Na) - biểu tượng về tinh thần đấu tranh bất khuất của Tây Nguyên.
Cộng đồng các dân tộc thiểu số Tây Nguyên góp phần không nhỏ làm nên đại thắng mùa Xuân năm 1975, làm dày thêm “sử thi giữ đất, giữ nước” của buôn làng.
Theo báo Quân đội nhân dân, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, vùng rừng núi và vùng có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống trở thành các căn cứ địa cách mạng, như: Tây Nguyên, Nam Trung bộ, Đông Nam bộ, đồng bằng sông Cửu Long.
Núi rừng và đồng bào Tây Nguyên đã đùm bọc bộ đội, ôm trọn, che chở đường mòn chiến lược Hồ Chí Minh. Vùng đất miền núi Trung bộ và Tây Nguyên đã diễn ra những chiến dịch lớn như Khe Sanh, Đường 9 Nam Lào, Pley Me, Sa Thầy, Đắc Tô, Bắc Tây Nguyên, và đặc biệt Chiến dịch Tây Nguyên tháng 3/1975, đưa “cuộc chiến tranh cách mạng sang một giai đoạn mới, từ tiến công có ý nghĩa chiến lược phát triển thành tổng tiến công chiến lược trên toàn chiến trường miền Nam”, mở đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975.
Sau ngày thống nhất đất nước, đồng bào Tày, Nùng, Dao, Mông, Thái…ở phía Bắc, đồng bào các dân tộc Ê Đê, Gia Rai, Mnông, Khmer, Chăm... ở các tỉnh phía Nam vẫn đoàn kết hợp đồng chiến đấu chặt chẽ bảo vệ quê hương, Tổ quốc trong các cuộc chiến bảo vệ biên giới từ năm 1979.
Bộ tem “Cộng đồng các dân tộc Việt Nam” do Bộ Bưu chính, Viễn thông phát hành năm 2005, nhân dịp kỷ niệm 60 năm Quốc khánh nước Việt Nam. Đây là bộ tem phổ thông có nhiều mẫu nhất trong lịch sử tem Bưu chính cách mạng, với 54 mẫu thể hiện hình ảnh đặc trưng của 54 dân tộc sinh sống trên dải đất Việt. Ảnh: Ngọc Minh
Từ khi nước nhà độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trương phải làm cho miền núi tiến kịp miền xuôi, làm cho đồng bào các dân tộc thiểu số được hưởng ngày càng đầy đủ hơn những quyền lợi về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa...
Trong thư gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam (họp tại Pleiku ngày 19/4/1946), Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau”.
Nha Dân tộc thiểu số (sau này là Ủy ban Dân tộc) ra đời từ năm 1946, có nhiệm vụ nghiên cứu và giải quyết mọi vấn đề liên quan đến các dân tộc thiểu số, nhằm củng cố sự đoàn kết và tương trợ giữa các dân tộc trên cả nước.
(Theo Cổng Thông tin điện tử Bộ Dân tộc và Tôn giáo)
Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 6, đất nước Đổi mới toàn diện trên các lĩnh vực. Năm 1989, Bộ Chính trị ban hành một số chủ trương chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi, mở đường cho đổi mới hoạt động công tác dân tộc.
Trong gần 4 thập kỷ Đổi mới, Ủy ban Dân tộc (nay là Bộ Dân tộc và Tôn giáo) đã triển khai nhiều chương trình lớn nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội cho đồng bào.
Từng quyết sách về chính sách dân tộc, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc nói chung, phát triển khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa nói riêng, việc triển khai các Chương trình 135 về phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa; Chương trình 134 về một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn; Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 62 huyện nghèo ở vùng sâu, vùng xa…đã đem lại hiệu quả thiết thực.
Tổng Bí thư Tô Lâm (thời điểm gặp mặt là Chủ tịch nước) gặp mặt thân mật Đoàn đại biểu Người có uy tín tiêu biểu trong đồng bào dân tộc thiểu số ở khu vực biên giới, hải đảo nhân dịp tham dự Chương trình “Điểm tựa của bản làng” tại Hà Nội-tháng 6/2024. Ảnh: Nhan Sáng/TTXVN
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính dự Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc liên khu dân cư các bản thuộc xã Sà Dề Phìn, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu (cũ)- tháng 11/2023. Ảnh: VGP/Nhật Bắc
Mới đây nhất là Chương trình Mục tiêu Quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021–2030 với cách tiếp cận mới mẻ, cấu trúc rõ ràng, mục tiêu rõ ràng và dài hạn đã tăng cường sự tham gia của đồng bào dân tộc thiểu số, với mục tiêu không chỉ là giảm nghèo mà còn thu hẹp khoảng cách phát triển, nâng cao chất lượng sống và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc.
Sau 80 năm độc lập, thế trận quốc phòng toàn dân ở vùng biên giới, vùng sâu, vùng xa được củng cố và phát triển; đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số đã có những bước tiến vượt bậc về nhiều mặt, khoảng cách phát triển giữa các vùng miền được thu hẹp; bản sắc văn hóa được bảo tồn và phát huy.
Bên nhau cùng sống vui êm đềm cùng núi rừng
Đất nước hoà bình, hạnh phúc ta như mùa xuân
(Tình ca Tây Bắc – Bùi Đức Hạnh)
Tôn giáo ở Việt Nam không chỉ là một thành tố văn hóa, phản ánh nhu cầu tâm linh mà thực sự là nguồn lực quan trọng góp phần phát triển đất nước.
Trước Cách mạng Tháng Tám, nhà tư sản người Công giáo Ngô Tử Hạ được xếp vào danh sách "300 nhà tư sản có máu mặt ở xứ Đông Dương”. Ông đã phụng sự cách mạng bằng việc âm thầm hỗ trợ in ấn sách báo, tài liệu, truyền đơn ủng hộ Việt Minh. Sau khi nước nhà độc lập, nhà in Ngô Tử Hạ được giao in những tờ giấy bạc đầu tiên của Chính phủ. Ông được bầu làm đại biểu Quốc hội khóa I; đứng đầu Hội cứu tế, cứu đói; ủng hộ tích cực phong trào Bình dân học vụ... hoạt động tận tụy cho cuộc đấu tranh chống giặc đói, giặc dốt những ngày gian nan.
Năm 1945, nhiều giám mục, linh mục, giáo dân đã ra gánh vác những trọng trách của chính quyền nhân dân. Giám mục Lê Hữu Từ, Hồ Ngọc Cẩn là cố vấn Chính phủ; ông Nguyễn Mạnh Hà đảm nhiệm chức Bộ trưởng Bộ Kinh tế, ông Vũ Đình Tụng - Giám đốc Nha Y tế Bắc Bộ, Linh mục Phạm Bá Trực - Phó Trưởng Ban thường trực Quốc hội khóa I.
Cách mạng Tháng Tám tiếp tục thổi bùng lên ngọn lửa yêu nước trong đồng bào các tôn giáo. Khi thực dân Pháp trở lại xâm lược, nhiều vị linh mục đã tạm ngừng việc đạo để lên chiến khu trực tiếp tham gia kháng chiến...
Theo Tạp chí Cộng sản, “nhiều nhà thờ của đạo Công giáo cùng những ngôi chùa của đạo Phật, thánh thất của đạo Cao Đài... trở thành những nơi nuôi giấu cán bộ, bộ đội”.
Trong kháng chiến chống Pháp, nhiều tăng ni, phật tử đã tham gia cách mạng, nêu cao tinh thần vô uý của Phật giáo; nhiều nhà sư “cởi áo cà sa, khoác chiến bào” xung vào các đoàn quân Nam tiến; đông đảo sư sãi, tín đồ phật tử tham gia phong trào: diệt giặc đói, giặc dốt, thực hiện chùa là trường học, nhà sư là thầy giáo.
Cũng trong thời gian này, đã có gần 1 triệu đồng báo Công giáo miền Bắc di cư vào Nam. Sau năm 1954, Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp cuộc đấu tranh của đồng bào, trong đó có những chức sắc, tín đồ các tôn giáo. Phong trào đấu tranh đòi hòa bình, dân chủ, dân sinh lan rộng, thu hút hàng triệu người, bao gồm cả đồng bào theo Phật giáo, đạo Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo, Công giáo, đồng bào các dân tộc ít người...
Ngày 02/8/1955, Ban Tôn giáo, một đơn vị trong Ban Nội chính Chính phủ và trực thuộc Thủ tướng phủ - tiền thân của Ban Tôn giáo Chính phủ - được thành lập.
Chủ tịch Hồ Chí Minh với các đại biểu dự Hội nghị Công giáo toàn quốc lần thứ nhất (9/3/1955). Ảnh: TTXVN
Ảnh 1
Sáng ngày 11/6/1963, Hòa thượng Thích Quảng Đức đã tự thiêu tại ngã tư đường Lê Văn Duyệt và Phan Đình Phùng (nay là Nguyễn Đình Chiểu – Cách Mạng Tháng Tám, TP.HCM) để phản đối đàn áp Phật giáo của chính quyền Việt Nam Cộng hòa.
Ảnh: Malcolm W. Browne.
Từ ngày 6-10/5/2025, tại Việt Nam Quốc Tự (TP.HCM), lần đầu tiên, ngọn đèn được chiếu sáng tại nơi lưu giữ xá lợi Bồ tát Thích Quảng Đức.
Ảnh: Nguyễn Huế
Ảnh 2
Từ năm 1955 đến năm 1975, theo TS Bùi Hữu Dược, nguyên Vụ trưởng Vụ Phật giáo - Ban Tôn giáo Chính phủ, với tinh thần “hộ quốc - an dân”, Phật giáo miền Nam đã dũng cảm xuống đường đấu tranh chống ách kìm kẹp của Mỹ-Diệm; nhiều ngôi chùa trở thành địa điểm trao đổi tin tức bí mật; là nơi mở rộng cửa cho thanh niên vừa tu học Phật pháp yêu nước, vừa tránh bị bắt lính, đôn quân. Nhiều tăng ni, phật tử đã “dấn thân” làm cách mạng, trở thành chiến sĩ, giao liên, cán bộ binh địch vận…
Tấm gương của Hoà thượng Thích Quảng Đức tự thiêu để phản đối việc đàn áp Phật giáo, phản đối chiến tranh, đòi tự do tôn giáo và độc lập dân tộc, đã làm rung chuyển miền Nam, tạo làn sóng rộng khắp trên thế giới phản đối đế quốc Mỹ xâm lược, ủng hộ chính nghĩa Việt Nam.
Một báo cáo của Ủy ban Liên lạc Công giáo toàn quốc cho biết, trong những năm chống Mỹ, hơn 60.000 thanh niên Công giáo đã nhập ngũ. Nhiều gia đình có 2 đến 5 con là bộ đội.
Từ sau năm 1975, non sông thu về một mối, các tổ chức tôn giáo từng bước đi vào ổn định, xây dựng đường hướng hành đạo theo phương châm “tốt đời, đẹp đạo”. Dù đối mặt với nhiều thách thức của thời kỳ bao cấp, bộ máy quản lý nhà nước về tôn giáo vẫn được duy trì và củng cố.
Công cuộc Đổi mới từ năm 1986 đã mang đến một luồng gió mới, cởi mở hơn trong quan điểm và chính sách đối với tôn giáo.
Từ sau năm 1990, đời sống tôn giáo có những khởi sắc rất quan trọng; tín đồ và chức sắc tôn giáo phục hồi và tăng trưởng; cơ sở thờ tự, trường lớp đào tạo chức sắc tăng lên; các lễ hội quy mô lớn của các tổ chức tôn với hàng trăm ngàn người tham dự; quan hệ quốc tế của các tổ chức tôn giáo được mở rộng; kinh sách, đồ dùng việc đạo được bảo đảm…
Năm 2016, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo được Quốc hội thông qua có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018, đánh dấu mốc quan trọng trong quá trình hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam.
Tăng trưởng hơn 10 triệu tín đồ trong 20 năm
2003 2023
Tín đồ 17,4 triệu 27,7 triệu
Tôn giáo 16 16
Tổ chức được công nhận hoặc cấp đăng ký hoạt động tôn giáo 16 43
Chức sắc 34.200 > 54.500
Chức việc ~ 79.000 ~ 145.000
Cơ sở thờ tự > 20.900 29.890
Nguồn: Sách trắng “Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam”, Nxb Tôn giáo 2023
HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TÔN GIÁO
Lễ Kỷ niệm 500 năm cải chính Tin Lành
Đại lễ Đức Chí Tôn ở Tòa thánh Cao Đài Tây Ninh
Phòng thuốc nam phước thiện tại Tổ đình Minh Hưng Tự, TP.HCM
Đại hội đại biểu tín đồ Phật giáo Hòa Hảo lần 4, nhiệm kỳ 2019-2024
Các tín đồ cầu nguyện tại Thánh đường Hồi giáo Al-Noor (Ánh sáng) - tại Hàng Lược, Hà Nội
Lễ hội Kate của người Chăm theo Bà-la-môn giáo ở Ninh Thuận
Nghiên cứu Phật pháp tại Học viện Phật giáo
Noel ở nhà thờ Phát Diệm (Ninh Bình)
Đại lễ Vesak Liên Hợp Quốc 2025 tổ chức tại TPHCM tháng 5/2025
Suốt hành trình phát triển, Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, phản ánh sự tiến bộ và cam kết của Nhà nước.
Trong đó, phải kể đến hệ thống pháp luật đồng bộ, minh bạch; các tôn giáo được tôn trọng và bảo đảm mọi quyền lợi hợp pháp, hoạt động tự do trong khuôn khổ pháp luật. Ngoài ra, Việt Nam còn chủ động tham gia các diễn đàn quốc tế về tôn giáo.
Cùng với đó là đời sống tín ngưỡng, tôn giáo đa dạng, sôi nổi. 95% dân số Việt Nam có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo.
Bộ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo Đào Ngọc Dung cùng các chư vị trưởng lão lãnh đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam, chư tôn, đức tăng ni thắp nến, tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ nhân kỷ niệm 50 năm thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2025). Ảnh: Nguyễn Huế
Một nội dung đặc biệt quan trọng từ khi đổi mới đến nay là việc công nhận các tổ chức tôn giáo. Năm 2004, cả nước có 16 tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận thuộc 6 tôn giáo. Đến giữa năm 2025, đã có 16 tôn giáo được công nhận, 43 tổ chức tôn giáo được cấp đăng ký hoạt động và công nhận tư cách pháp nhân.
Các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam đều xây dựng và duy trì đường hướng hành đạo gắn bó, đồng hành cùng dân tộc, như: Công giáo với “Sống Phúc âm giữa lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc của đồng bào”; Phật giáo với “Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội”; các tổ chức Tin Lành với “Sống Phúc âm, Phụng sự Thiên chúa, Phục vụ Tổ quốc và Dân tộc”; các hệ phái Cao Đài với “Nước vinh, Đạo sáng”; Phật giáo Hòa Hảo với “Vì Đạo pháp, vì Dân tộc”; Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam với “Tu học, hành thiện, ích nước, lợi dân”; Hồi giáo với “Lẽ sống tốt đạo, đẹp đời”; Phật giáo Tứ Ân Hiếu Nghĩa với “Hành Tứ Ân - Sống Hiếu nghĩa - Vì đại đoàn kết dân tộc”… Tôn giáo ở Việt Nam không chỉ là một thành tố văn hóa, phản ánh nhu cầu tâm linh mà thực sự là nguồn lực quan trọng góp phần phát triển đất nước.
Nhiều hoạt động tôn giáo quốc tế lớn được tổ chức trọng thể, thành công ở Việt Nam và được dư luận quốc tế đánh giá cao. Trong ảnh: Tín đồ tham dự Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc Vesak tổ chức ở TPHCM năm 2025 - Ảnh: Đình Huy
16 TÔN GIÁO, GẦN 28 TRIỆU TÍN ĐỒ
Tôn giáo 2008 2023
Phật giáo 10 triệu > 14 triệu
Công giáo 6,15 triệu > 7 triệu
Đạo Tin Lành > 880.000 > 1,2 triệu
Đạo Cao Đài > 1 triệu > 1,2 triệu
Phật giáo Hòa Hảo > 1,2 triệu > 1,5 triệu
Hồi giáo > 72.000 > 80.000
Tôn giáo Baha’i 7.000 > 7.000
Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam > 500.000 > 600.000
Cơ đốc Phục lâm > 16.000 > 18.000
Phật giáo Tứ Ân Hiếu Nghĩa > 70.000 78.000
Minh Sư đạo > 5.000
Minh Lý đạo - Tam Tông miếu 650
Bà-la-môn giáo > 66.000
Giáo hội Các Thánh hữu Ngay sau của Chúa Giê-su Ky-tô > 2.300
Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương > 10.000 > 10.000
Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn > 6.500
Nguồn: Sách trắng “Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam”, Nxb Tôn giáo 2023
Trong cuộc chiến mới nhất của thế kỷ 21 – đại dịch Covid-19 – cùng với huy động hỗ trợ tiền mặt, thiết bị y tế, nhu yếu phẩm….tín đồ các tôn giáo đã xung phong trong tuyến đầu chống dịch.
Đó là phong trào “Cởi áo cà sa khoác áo boluse trắng tham gia tuyến đầu phòng, chống dịch” của các tăng ni, cư sĩ, phật tử Phật giáo; là tinh thần của các tín đồ “Phật pháp tại thế gian bất ly thế gian pháp” vào Nam những tháng ngày giãn cách xã hội; tinh thần “Hộ quốc an dân” của các chùa, tự viện phát tâm cho sử dụng cơ sở làm bệnh viện dã chiến, khu cách ly.
Đó là tâm sức của hơn hàng ngàn thiện nguyện viên Tại Tổng giáo phận TPHCM, giáo phận Xuân Lộc…phục vụ tại các bệnh viện điều trị Covid-19. Các tình nguyện viên Công giáo đã xem các bệnh nhân cũng như cha mẹ, như người thân của mình, nên những việc khó khăn, vất vả, nguy hiểm vẫn phục vụ với tình yêu thương.
Hướng tới tha nhân và những người nghèo khổ, bệnh tật, luôn đề cao luân lý yêu thương con người... Những hành động lan tỏa giá trị nhân bản, tình yêu thương ra cộng đồng cũng chính là phát huy giá trị đạo đức tốt đẹp, góp phần tạo nên “sức mạnh mềm” cho đất nước hôm nay.
Bài hát “Tình ca Tây Bắc” được nhạc sĩ Bùi Đức Hạnh sáng tác năm 1957, trong những giây phút đầy xúc động khi bắt gặp ý nhạc hay trong bài thơ “Tình ca Tây Bắc” của nhà thơ Cầm Giang. Bài hát được sáng tác sau một ngày đêm công tác ở Hòa Bình và tiếp tục về Hà Nội chỉnh sửa, khi đó nhạc sĩ mới 24 tuổi. Trong clip là tiết mục “Tình ca Tây Bắc” do các nghệ sĩ biểu diễn tại chương trình hòa nhạc Điều còn mãi - Báo VietNamNet tổ chức năm 2016.
Thực hiện: Hạ Anh
Ảnh: TTXVN, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, Thể thao-Văn hóa, Hoàng Hà, Lê Anh Dũng
Clip: Đức Yên, Xuân Quý
Thiết kế: Team VietNamNet
Tài liệu tham khảo: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia-Sự thật; Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia-Sự thật; PGS Phạm Hồng Tung, Lịch sử cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam, Nxb ĐHQG Hà Nội; GS Đặng Phong, “Phá rào” trong kinh tế vào đêm trước đổi mới, Tư duy kinh tế Việt Nam Chặng đường gian nan và ngoạn mục 1975-1989, Nxb Tri thức; tư liệu Bảo tàng Lịch sử Quốc gia; Báo Nhân Dân, Báo Quân đội nhân dân, Báo điện tử Tiếng nói Việt Nam, Báo Sài Gòn Giải Phóng.
 
 
 
CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG SẢN XUẤT VÀ THƯƠNG MẠI ĐẠI SÀN
logo

Giấp phép đăng ký kinh doanh số 0103884103 do Sở Kế Hoạch & Đầu Tư Hà Nội cấp lần đầu ngày 29/06/2009.

Trụ sở chính: Gian số L4-07 tầng 4, nơ-2 - Gold Season, 47 Nguyễn Tuân, Thanh Xuân, Hà Nội

Email: daisanjsc@gmail.com

TRỤ SỞ HÀ NỘI

Địa chỉ Gian số L4-07 tầng 4, nơ-2 - Gold Season, 47 Nguyễn Tuân, Thanh Xuân, Hà Nội

Điện thoại  Điện thoại: 1900 98 98 36

Fax  Fax: 045625169

CHI NHÁNH HỒ CHÍ MINH

Địa chỉ 57/1c, Khu phố 1, Phường An Phú Đông, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh

Điện thoại  Email: info@daisan.vn